Chủ tịch Hồ Chí Minh và tầm nhìn chiến lược về thời đại mới trong tuyên ngôn độc lập
Trịnh Công Sơn Vết chân dã tràng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:55' 19-04-2024
Dung lượng: 883.8 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:55' 19-04-2024
Dung lượng: 883.8 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
BAN MAI
TRỊNH CÔNG SƠN
VẾT CHÂN DÃ TRÀNG
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
TRUNG TÂM VĂN HOÁ NGÔN NGỮ ĐÔNG TÂY
MỤC LỤC
• Trang trọng đôi lời cùng bạn đọc
(Gs. Nguyễn Đình Chú)
• Lời mở đầu của tác giả
PHẦN I
I. Quá trình nghiên cứu
II. Trịnh Công Sơn tiếng hát dã tràng
III. Vết chân dã tràng ngàn năm in dấu
IV. Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam
V. Trịnh Công Sơn người tình của cuộc sống
VI. Trịnh Công Sơn người ca thơ
VII. Thay lời kết luận
* Tài liệu tham khảo
PHẦN II
Phụ lục 1: Danh mục các tập nhạc Trịnh Công Sơn
Phụ lục 2: Danh mục ca khúc Trịnh Công Sơn
Phụ lục 3: Văn bản ca từ Trịnh Công Sơn
Phụ lục 4: Hình ảnh, thủ bút trịnh Công Sơn
TRANG TRỌNG ĐÔI LỜI CÙNG BẠN ĐỌC
NGUYỄN ĐÌNH CHÚ(*)
(*) Giáo sư Văn học Việt Nam hiện đại, Đại
học Sư phạm Hà Nội.
Dù chưa có một cuộc bình bầu, một cuộc điều tra xã hội học, tôi vẫn tán thành ý kiến của
nhạc sĩ Thanh Tùng cho rằng Trịnh Công Sơn là “Người Việt Nam viết tình ca hay nhất thế
kỷ”. Bởi tôi cũng nghĩ như vậy. Từ hạ bán thế kỷ XX đến nay, trong nền âm nhạc Việt Nam
hoành tráng, đa thanh, đa điệu, Nhạc Trịnh - cái tên thân quen mà người đời đã đặt cho âm
nhạc của Trịnh Công Sơn - là nhạc sĩ được đón nhận nồng thắm nhất, không chỉ với người
trong nước, mà còn với Việt kiều sống ngoài nước, kể cả người nước ngoài. Chỉ xem báo chí
tường thuật lễ tang nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đông đến hàng vạn người đã đành, mà có điều
chưa từng thấy bao giờ trên đất nước ta là những người đi đưa tang, vừa đi vừa hát, dĩ
nhiên là hát Nhạc Trịnh; chỉ nhìn vào sách báo viết về Trịnh, Nhạc Trịnh dồn dập ra đời
trong vài ba năm sau ngày Trịnh “về làm” cát bụi, cũng đủ tin điều nói trên đây là sự thật.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời ngày 1- 4 - 2001, ngay sau đó chưa đầy một tháng đã có
sách Trịnh Công Sơn - Một người thơ ca, một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ
Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm biên soạn (Nxb Âm Nhạc - Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ
Đông Tây, Hà Nội, 5 -2001), và vài năm sau (2004) bổ sung, tái bản với tên sách mới Một cõi
Trịnh Công Sơn (Nxb Thuận Hoá - Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây). Và cùng ra
đời là các sách: Trịnh Công Sơn - Cát bụi lộng lẫy (Nxb Thuận Hoá - Tạp chí Sông Hương);
Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ (Nxb Trẻ, 7 - 2001); Trịnh Công Sơn Rơi lệ ru người (Nxb Phụ nữ, quí II - 2001); Trịnh Công Sơn - Cuộc Đời - Âm Nhạc - Thơ Hội Họa & Suy Tưởng (Nxb Văn Nghệ TP. HCM, 11 - 2001); Trịnh Công Sơn: một nhạc sĩ
thiên tài (Bửu Ý - Nxb Trẻ - Công ty Văn hóa Phương Nam, 4 - 2003); Trịnh Công Sơn - Có
một thời như thế (Nguyễn Đắc Xuân - Nxb Văn học, 1 - 2003); Trịnh Công Sơn và cây đàn
lya của Hoàng tử bé (Hoàng Phủ Ngọc Tường - Nxb Trẻ, 2 năm 2005).
Sách in lại những bài viết khi Trịnh còn tại thế, nhưng phần lớn và cũng là phần tâm huyết
nhất, gây xúc động với người đọc nhiều nhất vẫn là sau ngày Trịnh qua đời. Chúng ta bắt
gặp ở đây nhiều tên tuổi quen thuộc không chỉ trong nhạc giới mà còn là văn giới, và các
ngành khác: Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát, Phạm Duy, Trần Văn Khê, Phạm Tuyên, Phó
Đức Phương, Hồng Đăng, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Anh Ngọc, Nguyễn Duy,
Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Sáng…
Kiều bào ta ở nước ngoài cũng rất mực ưu ái Trịnh. Đã có nhiều bài ngợi ca Nhạc Trịnh khi
tác giả còn sống. Trước năm 1975, Tạ Tỵ đã có thể viết: “Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam,
không nhạc sĩ nào có thể tạo cho mình, cho thế hệ mình những cơn lốc nghệ thuật làm lay
động đến chiều sâu tâm thức con người ở trong và ngoài kích thước quốc gia như Trịnh Công
Sơn”. Sau ngày Trịnh qua đời, trên các tạp chí Diễn đàn, Hợp lưu, Văn học, trên nhiều
website lại càng có thêm nhiều bài viết xúc động, sâu sắc về thế giới Nhạc Trịnh. Riêng tạp
chí Văn học đã dành một chuyên san về Trịnh. Năm 2008, Bùi Vĩnh Phúc - nhà phê bình
văn học ở Hoa Kỳ - đã xuất bản chuyên luận viết về Trịnh Công Sơn in tại Việt Nam: Trịnh
Công Sơn - Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật (Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008).
Nhạc Trịnh, đúng là trường hợp hiếm hoi trong nền nhạc của nước nhà, có khả năng vượt
ra ngoài phạm vi quốc gia. Tại các nước Mỹ, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Nhạc Trịnh đã có chỗ
đứng không dễ gì có. Riêng ở Nhật, Diễm xưa của Trịnh đã được dịch ra tiếng Nhật để hát
và được chọn làm nhạc phẩm chính cho một bộ phim của một hãng phim lớn, và là nhạc
phẩm Á Châu đầu tiên được đưa vào giảng dạy tại Viện Đại học Kansai Gakuin. Thêm nữa,
năm 1991, cô Yoshii Michiko đã làm luận văn thạc sĩ tại Pháp bằng tiếng Pháp về đề tài
Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn. Năm 2004, Giải thưởng âm nhạc hoà bình
thế giới (WPMA) được trao cho Nhạc Trịnh. Người Việt Nam ta, hẳn rất tự hào về Nhạc
Trịnh. Riêng với tôi là kẻ đến muộn, nhưng nhờ có mối quan hệ ruột rà giữa văn chương
mà tôi đã gắn bó một đời với ca từ của âm nhạc để từ đó trở thành người thần phục thế giới
phong phú, huyền diệu, lừng lững chất nhân văn muôn thuở đặc biệt là đậm đà triết lý cao
siêu hiếm thấy ở Nhạc Trịnh. Trước hết là ở ca từ. Với tôi, sự thần phục đã đi đôi với lòng
biết sơn. Biết ơn trong Nhạc Trịnh có tiếng gọi đàn, gọi đàn... da diết, điều tôi hằng mong
ước thiết tha đến cháy bỏng, thậm chí có kèm theo ít nhiều bức xúc trước sự khắc nghiệt
của trần gian. Tiếng gọi đàn trong Nhạc Trịnh là tiếng gọi người Việt Nam ta ơi! Hãy “Nối
vòng tay lớn”, “Hãy yêu nhau đi”, yêu nhau nhiều, nhiều, nhiều… nữa đi! Chúng ta đều là
con cháu vua Hùng. Tổ tiên ta từng dạy Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn. Đừng để bất cứ một thứ định kiến nhất thời nào, một thứ rào cản
nào ngăn trở. Hãy yêu nhau thêm nữa đi. Hãy “nối vòng tay lớn” thêm nữa đi. Và, tôi cũng
xin được cảm ơn Nhạc Trịnh đã cho tôi một sản phẩm nghệ thuật tuyệt vời để từ đó tôi có
đối tượng mà nghĩ về vấn đề thế nào là giá trị nhất thời, thế nào là giá trị vĩnh hằng trong
thế giới nghệ thuật mà với người đời vốn cũng không đơn giản. Với tôi, giá trị của Nhạc
Trịnh là trường tồn, là bất biến, dù cho sự khám phá, sự nhận chân giá trị đối với Nhạc
Trịnh vẫn còn phải đặt ra mãi mãi theo thời gian như đã từng đặt ra với các thiên tài nghệ
thuật khác.
Bạn đọc kính mến!
Từ những gì được thưa thốt trên đây, tôi lại thiết tha mong muốn quý vị hãy đến với cuốn
sách này của nữ soạn giả Ban Mai. Đến với nó, trước hết là đến với một trường hợp đam mê
Nhạc Trịnh tự thuở niên thiếu cho đến hôm nay Ban Mai đang làm việc tại một trường Đại
học, đã được đào tạo ở bậc thạc sĩ. Làm luận văn thạc sĩ, Ban Mai đã chọn đề tài Thân
phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn. Đây là vấn đề cốt lõi trong nội dung
ca từ của Nhạc Trịnh. Do đó, nhiều bậc thầy, bậc đàn anh đi trước đã có nói tới và nói đến
nhiều điều rất hay, nhưng chưa có điều kiện nói hết. Ban Mai, với yêu cầu của một luận văn
thạc sĩ, dĩ nhiên, trên cơ sở tiếp thu thành quả của người đi trước, phải có sự phát triển,
nâng cao bằng những phương pháp khoa học khác nữa, mà kết quả đã được ghi nhận. Nay,
từ luận văn thạc sĩ, đã có sự tu chỉnh, bổ sung thêm, tác giả chuyển lên làm sách. Sách gồm
hai phần chính:
Phần I. Tiểu luận về Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn. Phần II.
Văn bản ca từ Trịnh Công Sơn.
Với phần I, bạn đọc đã có điều kiện theo dõi ý kiến của những người đi trước, nay đọc
tiểu luận của Ban Mai chắc sẽ có sự đánh giá khách quan, công bằng đối với tác giả. Tôi
xin không nói gì thêm. Tôi muốn nói nhiều đến phần II. Quả thật theo tôi đây là việc làm
rất cần thiết trong công cuộc khám phá, chiếm lĩnh lâu dài đối với Nhạc Trịnh. Như mọi
người đã thừa nhận trong kho báu Nhạc Trịnh, lời ca, ca từ có một vị trí đặc biệt. Riêng
về ca từ, Trịnh Công Sơn đã hoàn toàn xứng đáng là thi sĩ lớn, thậm chí có người đã
mệnh danh là Nguyễn Du của thời nay. Ấy thế nhưng, hỏi đã có mấy ai được tiếp xúc với
khối lượng ca từ của Nhạc Trịnh một cách đầy đủ? Ngay đến con số nó là bao thì cũng
mỗi người nói một cách: 300?, 500?, 800? Mà nghe đâu, chính Trịnh Công Sơn cũng
không nhớ mình đã có bao nhiêu ca khúc. Phạm Văn Đỉnh, Chủ tịch Hội Văn hoá Trịnh
Công Sơn tại Pháp, đã công bố trên mạng thư mục bài hát Trịnh Công Sơn từ công phu
sưu tầm của mình là 288 bài. Từ thực tế đó, lần này, với cuốn sách của Ban Mai, in lại
242 văn bản ca từ của Nhạc Trịnh, với sự cho phép của người thừa kế bản quyền. Tôi
không chỉ hy vọng mà còn tin rằng tất cả những ai đã đam mê Nhạc Trịnh, hiện đang
trên con đường đến với Nhạc Trịnh, sẽ hân hoan chào đón. Con số 242 này, dù đã là kết
quả của một quá trình xông xáo, vất vả, thậm chí tốn kém của nữ soạn giả Ban Mai,
nhưng chắc chắn chưa đủ so với những gì Nhạc Trịnh đã có. Chỉ mong sao, sẽ có sự bổ
sung, đóng góp thêm của những ai thiết tha với kho báu Nhạc Trịnh. Và cũng xin đừng
quên chỉ bảo cho soạn giả Ban Mai những điều còn bất cập, thiếu sót, trong công trình
vốn là sản phẩm của nhiều năm tháng bằng niềm đam mê Nhạc Trịnh.
Hà Nội, vào Thu, Mậu Tý (2008)
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền âm nhạc Việt Nam, Trịnh Công Sơn được xem là một trong những nhạc sĩ viết lời ca
hay nhất, là phù thuỷ của ngôn ngữ [7, 8]. Gần nửa thế kỷ sáng tạo, Trịnh Công Sơn đã để lại cho
nền âm nhạc Việt Nam một di sản đồ sộ trên 300 ca khúc. Ca từ của ông đích thực là thơ. Một
kiểu thơ lãng mạn, trữ tình, giàu chất hiện sinh, siêu thực mang đậm dấu ấn Thiền, có giá trị
lớn về nội dung và nghệ thuật.
Thế nhưng, tìm hiểu giá trị ca từ của Trịnh Công Sơn mang tính học thuật trong trường học
đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Là người say mê Nhạc Trịnh, vì vậy, khi làm luận văn Cao học về Văn
học Việt Nam, tôi không ngần ngại chọn ca từ Trịnh Công Sơn làm đối tượng nghiên cứu, dưới
góc nhìn văn học.
Bên cạnh việc tìm hiểu giá trị ca từ và những đóng góp của Trịnh Công Sơn trong nền văn hóa
Việt Nam, công trình này trước tiên coi trọng về mặt cung cấp tư liệu. Trong điều kiện cho
phép, chúng tôi cố gắng sưu tầm, khôi phục tương đối đầy đủ những ca từ thất lạc của Trịnh
Công Sơn dựa trên các tạp chí, các website trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, chúng tôi
cũng sưu tầm gần như tất cả những bài nghiên cứu ở trong và ngoài nước với nhiều quan điểm
khác nhau. Điều này nhằm khách quan hoá cách nhìn trên tinh thần khoa học, vì trước đây do
hạn chế về mặt tư liệu, do cách nhìn phiến diện vì nhiều lý do, công chúng chưa hiểu thấu đáo
về cuộc đời và những giá trị nghệ thuật mà Trịnh Công Sơn đã cống hiến.
Nghiên cứu ca từ Trịnh Công Sơn, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Đặc biệt,
chú ý đến tính triết học trong ca từ họ Trịnh; phương pháp xếp chồng văn bản của Charles
Mauron; phương pháp liên văn bản do Mikhail Bakhtin đề xuất.[30] Mặc dù coi những ca từ của
Trịnh Công Sơn là những văn bản chính để khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi còn muốn dựa vào
một thứ “siêu văn bản” khác. Đó là hoàn cảnh xã hội, không khí thời đại, bầu khí quyển triết
học, chính trị trong đó những ca từ của ông ra đời, và sự giáo dục cá nhân của chính con người
nghệ sĩ. Tất cả những điều ấy cũng là những loại “văn bản khác”, qua đó, chúng tôi hy vọng sẽ
góp phần vào việc giúp nhìn rõ hơn chân dung tác giả, cũng như phát hiện phần chìm của tảng
băng trong ngôn ngữ Trịnh Công Sơn. [4]
Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với giáo sư Nguyễn Đình
Chú, người thầy đã cho tôi nhiều ý kiến quý giá trong quá trình hoàn thiện văn bản.
Xin trân trọng cảm ơn những lời chỉ giáo của ông Bửu Ý, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà
thơ Anh
Ngọc, Giáo sư Dương Viết Á, nhà văn Trần Hữu Thục (Hoa Kỳ), nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh
Phúc (Hoa
Kỳ).
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn Tiến sĩ Khoa học Phạm Văn Đỉnh - Chủ tịch Hội Văn hóa Trịnh
Công
Sơn (Pháp), và những người bạn Nam Dao, Trần Vũ, Nguyễn Hương, Thơ Thơ đã cung cấp cho
tôi nhiều tư
liệu quý báu.
Trân trọng cảm ơn cô Trịnh Vĩnh Trinh - đại diện pháp lý bản quyền tác giả - đã cho phép tôi
công bố văn bản ca từ Trịnh Công Sơn.
Cuối cùng, chân thành cảm tạ ông Đoàn Tử Huyến - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc biên tập hoàn chỉnh bản thảo cuốn sách này và đưa nó đến
tay bạn đọc.
Trong điều kiện hạn chế về mặt khả năng nghiên cứu, công trình chắc chắn còn nhiều
khiếm khuyết, tôi rất
mong nhận được sự chỉ bảo của quý bạn đọc.
Tháng 8/2008
BAN MAI
(Nguyễn Thị Thanh Thúy)
Phần I
TRỊNH CÔNG SƠN
VẾT CHÂN DÃ TRÀNG
I. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
1. VỀ THƯ MỤC BÀI HÁT
Công chúng thường phỏng đoán Trịnh Công Sơn đã sáng tác hơn 400 ca khúc, có người đã tăng
số ấy lên 600,
800 bài, thậm chí có người tăng đến 1000 bài, nhưng không ai đưa ra chứng cớ cụ thể, không
biết dựa vào tài liệu
nào để phỏng lượng như vậy. Chính Trịnh Công Sơn, lúc sinh thời, cũng không biết mình đã
viết bao nhiêu ca khúc
vì thời chiến tranh sống cuộc đời trốn tránh, lang bạt ông không có điều kiện giữ gìn, những
sáng tác ấy thất lạc khắp
nơi.
Năm 1991, cô Yoshii Michiko, một sinh viên người Nhật làm luận văn cao học về nhạc phản
chiến của Trịnh Công Sơn, đã sưu tầm được 196 bài hát, trên cơ sở tài liệu do chính Trịnh Công
Sơn cung cấp dựa vào trí nhớ tác giả hoặc của các ca sĩ. [64]
10 năm sau, khi Trịnh Công Sơn qua đời năm 2001, những bạn bè của ông ở trong nước và
ngoài nước cố công sưu tầm những bài hát của ông qua nhiều nguồn. Hiện nay trên mạng Hội
Văn hóa Trịnh Công Sơn, trong thư mục Bài hát, Ts.Kh. Phạm Văn Đỉnh đã kỳ công sưu tầm
được 288 bài, có chú thích năm tháng cẩn thận. Có lẽ đó là thư mục bài hát tìm được nhiều
nhất tính cho đến thời điểm hiện nay.
Khi sưu tầm ca từ Trịnh Công Sơn để nghiên cứu, bước đầu chúng tôi cũng gặp rất nhiều khó
khăn. Tuy
nhiên, qua thời gian dài sưu tầm công phu, cẩn trọng với những cứ liệu có được, chúng tôi
nhận định Trịnh
Công Sơn sáng tác khoảng trên 300 bài hát. Ts.Kh. Phạm Văn Đỉnh cũng đồng ý như vậy.
2. VỀ NHƯNG BÀI NGHIÊN CỨU
HIỆN TƯỢNG TRỊNH CÔNG SƠN
Âm nhạc của Trịnh Công Sơn, ngay từ khi mới ra đời và xuất hiện trước công chúng đã gây
được tiếng vang và nhanh chóng trở thành hiện tượng. Từ đó đã có những bài viết về nhạc của
ông. Chúng tôi tạm phân ra hai thời kỳ: Thời kỳ ông còn sống và sau khi ông mất.
Thời kỳ Trịnh Công Sơn còn sống: Qua tư liệu chúng tôi sưu tầm được, trước năm 1975 có vài
tờ báo viết
về hiện tượng nhạc Trịnh Công Sơn với những nhận định chung chung về thiên tài âm nhạc của
Trịnh. Như các
bài: Phong trào da vàng ca của Lê Trương, Trịnh Công Sơn của hoạ sĩ Tạ Tỵ, Huyền thoại về
con người của Tô
Thùy Yên. Trong các bài viết đó, nhận định của Tạ Tỵ rất đáng chú ý. Ông cho rằng: “Trong lịch
sử âm nhạc
Việt Nam, không nhạc sĩ nào có thể tạo cho mình, cho thế hệ mình, những cơn lốc nghệ thuật
làm lay động đến
chiều sâu tâm thức con người ở trong và ngoài kích thước quốc gia như Trịnh Công Sơn. Trong
vòng 4-5 năm
trở lại đây, tiếng Nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly đã đi hẳn vào đời sống tâm linh
của những
người trẻ tuổi bằng niềm đau xót và phẫn nộ xen kẽ trong một hoàn cảnh không mấy thuận lợi
vì tình hình quân
sự và chính trị”.[45] Nhìn chung, các bài viết trên chỉ cho ta cái nhìn toàn cảnh về âm nhạc
Trịnh Công Sơn
trong bối cảnh xã hội chiến tranh loạn lạc lúc bấy giờ, không có bài viết nào nghiên cứu sâu về
ca từ Trịnh
Công Sơn.
Đến năm 1991, khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn còn sống, có một luận văn cao học viết về nhạc của
ông, do
cô Yoshii Michiko người Nhật nghiên cứu với đề tài Những bài hát phản chiến của Trịnh Công
Sơn, viết bằng tiếng Pháp, đánh máy chữ rất thoáng, mỗi trang chứa khoảng 20 hàng, có lẽ với
máy đánh chữ Olympia của
Nhật, cho phép gõ phím với dấu tiếng Việt. Gồm tất cả 135 trang, kể cả trang tựa và phần phụ
lục. Đã được bảo
vệ tháng 9/1991 tại Đại học Paris 7. Bản dịch tiếng Việt tôi hiện có, đánh máy vi tính khoảng
60 trang (phần bài
viết). Luận văn này giới thiệu những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn, nhằm chứng minh
đó là những
kiệt tác về âm nhạc, từ đó giúp người nghe nhạc hiểu tốt hơn về những bài hát phản chiến của
ông.[64]
Tóm lại, trong khoảng thời gian Trịnh Công Sơn còn sống, việc nghiên cứu ca từ của Trịnh
Công Sơn rất hạn chế, do nhiều nguyên nhân: trước năm 1975 do chiến tranh loạn lạc, sau năm
1975 trong quan điểm chính thống có nhiều luồng tư tưởng còn cực đoan, phiến diện. Đây đó,
trên những tờ báo trong nước và nước ngoài chỉ giới thiệu về hiện tượng nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn trong âm nhạc và trong cuộc đời, chưa đi sâu khai thác những đóng góp của ông về nghệ
thuật ca từ.
Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời ngày 01/04/2001, người ta mới nghiên cứu nhiều về cuộc đời
và những sáng tác của ông.
Tại Việt Nam
Có nhiều tác phẩm của Nhiều tác giả biên soạn, lần lượt ra đời tập họp những bài phê bình của
các tác giả trong và ngoài nước (lấy lại trên các trang web hải ngoại và được biên tập lại) gồm
những bài phỏng vấn, những bài nghiên cứu, cảm nghĩ của bạn bè.
Sau 01/04/2001, cuốn sách ra đời đầu tiên viết về người nhạc sĩ vừa quá cố là cuốn Trịnh
Công Sơn - Một người thơ ca một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử
Huyến sưu tầm và biên soạn; sau đó được bổ sung, biên soạn lại và xuất bản lại với tựa đề Một
cõi Trịnh Công Sơn (2004).
Tiếp theo, lần lượt được phát hành các cuốn Trịnh Công Sơn - Cát bụi lộng lẫy, Trịnh Công Sơn
- Người hát rong qua nhiều thế hệ, Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người, Trịnh Công Sơn - Cuộc đời,
âm nhạc, thơ, hội họa & suy tưởng.
Ngoài ra còn có các tác phẩm khác của Bửu Ý, giảng viên tiếng Pháp Trường Đại học Sư phạm
Huế, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà nghiên cứu xứ Huế Nguyễn Đắc Xuân.
Ở đây, chúng tôi điểm qua 3 tập tiêu biểu của Nhiều tác giả:
Thứ nhất là tập Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người do Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành năm 2003,
dày 208
trang. Cuốn sách nhỏ, khiêm tốn, in thoáng, chữ rõ, tâp hợp một số bài viết thiên về người mẹ,
người phụ nữ.
Nổi bật trong tập sách này có bài Kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận của Bửu Ý, với
những nhận
định sắc sảo: “Tình yêu, với Trịnh Công Sơn, là diễm tình. Trước hết là phải đẹp, đẹp trong
từng lời bội bạc,
bước chân quay gót, trong dang dở và tan vỡ… Cái đẹp ở đây là cái đẹp siêu thực, tức là ít nhiều
nhuốm màu
sắc ý chí của kẻ chủ trương và đồng thời nhạt bớt hương vị của thường tình… Quê hương nổi
bật hai nét lớn:
nghèo và chiến tranh. Cái nghèo còn là hậu quả của chiến tranh. Và chiến tranh diễn ra không
phải ở chiến
trường, không phải do người cầm súng, nó diễn ra ở bàn tròn, ở trong lòng người, ở trong đầu
óc những con
người mua bán chiến tranh… Trịnh Công Sơn quả quyết “Chỉ có ta trong một đời” và dứt khoát
chọn lựa:
Sống, Sống hết mình. Không khất hẹn, không chờ đợi, không ủy quyền… Phải ôm cho hết cuộc
đời nhị nguyên
cồm cộm này, bao gồm những cặp phạm trù khó dung nạp nhau nhưng khó phân ly: sống/chết;
buồn/vui; hạnh
phúc/khổ đau”. [55;125-136]
Thứ hai là tập Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ, của Nhà xuất bản Trẻ, 2004,
dày 416
trang. Bìa cứng, có chân dung tự họa của Trịnh Công Sơn, năm 1999, sau một cơn bịnh “thập tử
nhất sinh”. Ấn
phẩm này trình bày đẹp, in ấn trang nhã, tập hợp 26 bài viết của Trịnh Công Sơn, 28 bài viết về
Trịnh Công Sơn
trước ngày 1/4/2001, 87 bài của bạn bè sau 1/4/2001 và một số hình ảnh tư liệu về Trịnh
Công Sơn. Nổi bật có
bài Hành tinh yêu thương của Hoàng tử bé của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhận định về tình ca,
nhà văn họ
Hoàng cho rằng: “…Với Sơn, Người Tình là người đối thoại cần thiết, và vì thế trong tình ca
Trịnh Công Sơn,
người nói không là “Anh” mà là “Tôi và Em”. Hai tiếng Anh - Em ngọt ngào đó hình như không
thích hợp với những điều cay đắng. Không thích hợp với nhiều thứ gai góc cuộc đời, như thân
phận, cái chết và nỗi tuyệt vọng: “Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng tuyệt
vọng”. Đến đây thì mọi sự đã ngã ngũ, rằng Tình ca Trịnh Công Sơn chính là siêu hình học, và vì
thế không bao giờ cũ”.[37;128]
Thứ ba là tập Một cõi Trịnh Công Sơn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ
Đông Tây, 2004, dày 650 trang. Công trình gồm 51 bài viết của 43 tác giả, trong đó có nhiều bài
trùng với tập Người hát rong qua nhiều thế hệ, phần Phụ lục 1 có văn xuôi Trịnh Công Sơn, đặc
biệt có truyện ngắn Chú Lộ, và phần Phụ lục 2 gồm 73 ca từ của Trịnh Công Sơn.
Đánh giá về ca từ Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Phạm Tuyên viết: “Trong lĩnh vực ca khúc, lời ca có
một vị trí
hết sức quan trọng và về mặt này Trịnh Công Sơn thực sự là một nhà thơ. Lời ca anh không dễ
dãi tùy tiện, mà
luôn luôn ẩn sâu một triết lý về cuộc đời và điều đáng nói là anh đã tìm được những giai điệu
phù hợp, dung
dị, không cầu kỳ, kiểu cách để thể hiện nội dung đó. Đối với người sáng tác, có được một phong
cách riêng
là một điều phải phấn đấu. Trịnh Công Sơn không chủ tâm tạo cho mình một sự khác biệt lập
dị, nhưng bằng
tình cảm chân thành của mình, anh đã có được một phong cách rất riêng được sự mến mộ của
đông đảo
công chúng. Sẽ còn có nhiều công trình nghiên cứu về hàng trăm ca khúc của anh với những sự
đánh giá có
thể khác nhau, nhưng phải khẳng định rằng sự nghiệp sáng tác của anh đã góp phần xứng đáng
vào nền ca
khúc Việt Nam hiện đại”. [36; 463]
Ngoài ba tập sách của Nhiều tác giả trên, còn có ba tác phẩm cá nhân:
Thứ nhất là tập: Trịnh Công Sơn một nhạc sĩ thiên tài (2004) của Bửu Ý - một người bạn thân
từ thời trai trẻ của Trịnh, hiện đang giảng dạy tiếng Pháp tại Trường Đại học Sư phạm Huế.
Ông viết lại từng chặng đời của Trịnh Công Sơn và phân tích một số chủ đề và nghệ thuật ngôn
ngữ trong ca từ, bên cạnh còn có những thủ bút của Trịnh. Ngoài ra Bửu Ý còn cung cấp một số
bài viết của người nước ngoài viết về Trịnh Công Sơn.
Tiếp đến, nhà nghiên cứu xứ Huế Nguyễn Đắc Xuân cho ra đời tác phẩm Trịnh Công Sơn - Có
một thời như thế
(2003). Những tư liệu sưu tầm tương đối đáng tin cậy ấy đã cho ta một cái nhìn xác đáng về
cuộc đời của Trịnh. Bên
cạnh đó, tác giả đã có công trong việc truy tìm lại bài Dã Tràng ca (còn có tên Trường ca Tiếng
Hát Dã Tràng),
được sáng tác thời học Sư phạm Quy Nhơn bị thất lạc đến nay.(1)
(1) Sau khi Nguyễn Đắc Xuân công bố, có người gia đình Trịnh Công Sơn tuyên bố trước báo
chí bài Dã Tràng ca từ đó đến bấy giờ vẫn nằm trong nhà.
Riêng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường - bạn thân của Trịnh - ngoài bài viết Hành tinh yêu
thương của Hoàng tử bé in ở tập Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ còn cho
xuất bản tập Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của Hoàng tử bé (2005) với những bài tùy bút viết
về kỷ niệm của hai người và những cảm nhận về nhạc phản chiến, tình ca Trịnh Công Sơn.
Tại Hải Ngoại
Ngay từ ngày 02/04/2001, sau khi Trịnh Công Sơn vừa mất một ngày, Diễn đàn là tạp chí đưa
tin và có bài viết sớm nhất về ông, chủ yếu là tập hợp các bài viết của bạn bè sinh sống ở Âu,
Mỹ. Tiếp đó, trung tuần tháng 4/2001, tạp chí điện tử Văn học Nghệ thuật đã nhanh chóng đưa
lên mạng Phụ trương Đặc biệt, phong phú và đa dạng với nhiều bài viết từ trong và ngoài nước,
chủ yếu là kể lại những kỷ niệm và cảm xúc của bạn bè dành cho Trịnh Công Sơn.
Tạp chí Hợp Lưu (2001) tại Hoa Kỳ dành 72 trang đầu viết về ông. Trong đó, có bài Chiêm
ngắm đóa hoa
vô thường của Hà Vũ Trọng, khẳng định nhạc của ông là thơ, ông viết: “Chúng ta yêu Nhạc
Trịnh Công Sơn vì
trong nhạc của anh có thơ. Vậy, chúng ta có được cả hai. Tự thơ đã là một loại nhạc biểu hiện
cái đẹp và sự
hài hòa của chữ nghĩa. Nhạc thơ ở anh song sinh từ niềm thôi thúc muốn tỏ tình với cuộc đời.
Nhạc thơ đó
cũng lung linh ảo diệu như bóng trăng in trên mặt nước mà chúng ta thường không phân biệt
nổi đâu là nhạc là thơ. Nếu nhạc là con sông thì thơ là con trăng nhập vào mặt nước thành con
thuyền chở tình yêu của anh. Nói cách khác, thơ và nhạc là đôi cánh để bay chở tình yêu trong
những ca khúc của Trịnh Công Sơn, không thể tách lìa được”. [48;17]
Đặc biệt, tạp chí Văn học (2001) tại California, Hoa Kỳ dành nguyên một ấn bản với chủ đề:
Trịnh Công Sơn Tình yêu, quê hương, thân phận, gồm 20 bài, dày 245 trang. Tranh bìa do họa
sĩ Đinh Cường vẽ. Trong đó, có bài nghiên cứu Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn của nhà
văn Trần Hữu Thục (Hoa Kỳ) rất công phu, ông so sánh kỹ thuật viết của Trịnh Công Sơn khi
viết về hai dòng nhạc tách bạch: dòng nhạc về chiến tranh - hòa bình, và dòng nhạc về tình yêu,
thân phận. Ông nhận định “… Trong hầu hết những bài hát thuộc loại chiến tranh và hòa bình,
anh viết bằng một lối viết rất hiện thực, kể cả khi mô tả những giấc mơ, những ước vọng. Hiện
thực kinh khiếp đó được mô tả bằng chữ nghĩa sống động và đầy hình ảnh: trái tim rơi theo đại
bác, thịt người cho thú nhai ngon, thịt xương đã phơi đồng xanh, đại bác ru đêm dội về thành
phố… Mọi sự hoàn toàn khác hẳn khi ta bước vào tình ca và thân phận. Tất cả bắt đầu chông
chênh ở biên giới chữ nghĩa, ý tưởng bởi vì có một sự pha trộn đặc biệt giữa nhiều hình ảnh và
ý tưởng cũng như ẩn dụ… tạo ra những hình ảnh, biểu tượng mới và rất nhiều khi tạo nên
những hiệu ứng đặc biệt về mặt âm thanh: tuổi đá buồn, nắng khuya, mặt trời ngủ yên, miệng
ngọt hạt từ tâm.”. [50; 57-58]
Và kỳ công hơn là bài viết của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc (Hoa Kỳ), Trịnh Công Sơn,
ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật. Bằng phương pháp thi pháp học, kết hợp với phương
pháp xếp
chồng văn bản (superposition) của Charles Mauron và phương pháp liên văn bản nói chung,
ông khảo sát
kỹ thời gian, không gian nghệ thuật và cách sử dụng ngôn ngữ kỳ ảo trong các ca khúc của
Trịnh Công
Sơn. Theo ông, trong nhạc Trịnh Công Sơn, chủ yếu có những loại thời gian nghệ thuật sau:
thời gian phai
tàn, thời gian tiếc nuối, thời gian trông ngóng, thời gian hướng vọng thiên thu, và thời gian
thực tại. Không
gian nghệ thuật bao gồm không gian Trời đất, không gian Núi và Biển, không gian Sông, không
gian
Rừng, không gian Phố, với những biểu tượng gắn vào các không gian này như Sóng, Mây, Mưa,
Nắng,
Mặt trời, Mặt trăng... Ngôn ngữ nghệ thuật trong ca khúc Trịnh Công Sơn kỳ ảo vì chúng thường
được kết
hợp với nhiều biện pháp tu từ. Và cuối cùng ông kết luận: “Trịnh Công Sơn là một thi sĩ. Anh
sống trong
thời đại của mình, và anh có những giấc mơ. (...) Có lẽ, nếu muốn, chúng ta cũng thấy được tầm
cỡ của
thời đại mình qua những giấc mơ và thế giới mà Trịnh Công Sơn đã sống, đã yêu và đã cùng
xót xa với
chúng”.[46; 172]
Kế đến là bài Trịnh Công Sơn, tiếng hát hòa bình của nhà phê bình Đặng Tiến (Pháp), bàn về ca
khúc
phản chiến, ông giải thích: “Dùng chữ nhạc phản chiến, theo kiểu anti-guerre, anti-war, là nói
cho gọn, và đã
có người phản bác, cho rằng mông lung, vì người nghệ sĩ chân chính nào mà không chống
chiến tranh? Ngoài
ra, những ca khúc Trịnh Công Sơn tố cáo chiến tranh, gào gọi hòa bình còn bày tỏ khát vọng
thống nhất đất
nước, tình tự dân tộc, tình yêu nhân loại, niềm tin vào cuộc đời, tình người và hạnh phúc lứa
đôi. Những tình
cảm này đan quyện vào nhau. Hơn nửa một số nhạc tình thuần túy, nội dung không quan hệ
đến chiến tranh,
khi nghe trong đám đông, cũng tạo nên một cảm giác thời thế, từ một thời phản chiến”. [10;
176]
Bên cạnh những tác phẩm trên, còn phải kể đến một số bài phê bình khác in trên tạp chí và
trên mạng rất
công phu như Ảo giác Trịnh Công Sơn của Lê Hữu (Hoa Kỳ), nói về những ảo giác mà ca từ
Trịnh Công Sơn
tạo ra. Tuy bài viết có nhiều quan điểm phiến diện, nhưng phần phân tích ca từ rất kỳ công và
nhiều chỗ tinh tế.
Bài viết đăng trên tạp chí Văn học tại California, Hoa Kỳ tháng 02&03/2004; và trên mạng tcshome.org.
Ngoài những công trình trên, chúng tôi còn tìm thấy các bài sau đây:
Nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn, của giáo sư Cao Huy Thuần (Pháp) trong Đêm
tưởng niệm
Trịnh Công Sơn do Hội Văn hoá Trịnh Công Sơn tổ chức tại Paris, 3/5/2003, “thuyết văn” sắc
sảo về nội dung
những bài hát chủ đề này, đăng lại trên mạng tcs-home.org; Thời thanh xuân Trịnh Công Sơn
của Sâm Thương
(tcs-home.org); Trịnh Công Sơn và Những Phố Xa, của Ngự Thuyết (Hoa Kỳ) trên mạng
(suutap.com) phân
tích kỹ về không gian phố trong ca từ Trịnh Công Sơn. Tiếng Việt trong dòng Nhạc Trịnh Công
Sơn của Phạm
Bân (suutap.com); Bài phỏng vấn Khánh Ly của nhà báo Bùi Văn Phú tại Hoa Kỳ tháng 7/2004,
nguồn Tạp chí
Văn (California) số 92, tháng 8/2004; Cái chết, Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc
Trịnh Công Sơn
(2007) của John C. Schafer (talawas.org); (tcs-home.org), tóm lược lại từ văn bản tiếng Anh rất
đồ sộ. [65]
Ngoài nữa còn có nhiều trang web tập hợp tất cả hình ảnh, bài hát, đĩa nhạc, bài viết, phê bình,
thủ bút của ông, cập nhật thường xuyên. Như trên trang web suutap.com tại Mỹ và tcshome.org tại Pháp.
Nhìn chung, điểm qua các công trình nghiên cứu, sưu tầm được, chúng tôi nhận thấy như
sau:
- Theo thời gian, các công trình nghiên cứu đã cố gắng dựng lại trung thực cuộc đời âm nhạc
của Trịnh Công Sơn trong bối cảnh đất nước trước và sau chiến tranh 1975.
- Hầu như các nhà nghiên cứu đều khẳng định Trịnh Công Sơn là một hiện tượng văn hóa lớn
trong thế kỷ XX, ông không những là một tài năng lớn trong âm nhạc mà còn là một nhân cách
lớn trong một bối cảnh Việt Nam đầy biến động.
- Nghiên cứu, đánh giá Trịnh Công Sơn nhìn chung thường trong trạng thái hỗn hợp giữa nhạc
và lời. Nhưng dù vậy, căn cứ trực tiếp hơn vẫn là thiên về phần lời, phần ca từ. Nghiên cứu về ca
từ, phần lớn các công trình nghiên cứu đều phân tích phong phú các chủ đề mà nội dung ca từ
Trịnh Công Sơn phản ánh, đồng thời lý giải về mặt sử dụng nghệ thuật ngôn từ một cách tài
hoa trong các ca khúc của ông.
Cụ thể bàn về nội dung ca từ của Trịnh Công Sơn, hầu hết các bài nghiên cứu đều nhận định
“Thân
phận con người và tình yêu” là hai chủ đề nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của ông. Thân phận
con
người của ông thường mang những cặp phạm trù đối lập sống/chết; buồn/vui; hạnh phúc/khổ
đau. Ông
ám ảnh phận người mong manh, chóng tàn. Tình yêu với người nữ của Trịnh Công Sơn là thứ
tình yêu
sương khói, lãng đãng, dở dang. Còn tình yêu con người trong ông, là tình yê...
TRỊNH CÔNG SƠN
VẾT CHÂN DÃ TRÀNG
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
TRUNG TÂM VĂN HOÁ NGÔN NGỮ ĐÔNG TÂY
MỤC LỤC
• Trang trọng đôi lời cùng bạn đọc
(Gs. Nguyễn Đình Chú)
• Lời mở đầu của tác giả
PHẦN I
I. Quá trình nghiên cứu
II. Trịnh Công Sơn tiếng hát dã tràng
III. Vết chân dã tràng ngàn năm in dấu
IV. Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam
V. Trịnh Công Sơn người tình của cuộc sống
VI. Trịnh Công Sơn người ca thơ
VII. Thay lời kết luận
* Tài liệu tham khảo
PHẦN II
Phụ lục 1: Danh mục các tập nhạc Trịnh Công Sơn
Phụ lục 2: Danh mục ca khúc Trịnh Công Sơn
Phụ lục 3: Văn bản ca từ Trịnh Công Sơn
Phụ lục 4: Hình ảnh, thủ bút trịnh Công Sơn
TRANG TRỌNG ĐÔI LỜI CÙNG BẠN ĐỌC
NGUYỄN ĐÌNH CHÚ(*)
(*) Giáo sư Văn học Việt Nam hiện đại, Đại
học Sư phạm Hà Nội.
Dù chưa có một cuộc bình bầu, một cuộc điều tra xã hội học, tôi vẫn tán thành ý kiến của
nhạc sĩ Thanh Tùng cho rằng Trịnh Công Sơn là “Người Việt Nam viết tình ca hay nhất thế
kỷ”. Bởi tôi cũng nghĩ như vậy. Từ hạ bán thế kỷ XX đến nay, trong nền âm nhạc Việt Nam
hoành tráng, đa thanh, đa điệu, Nhạc Trịnh - cái tên thân quen mà người đời đã đặt cho âm
nhạc của Trịnh Công Sơn - là nhạc sĩ được đón nhận nồng thắm nhất, không chỉ với người
trong nước, mà còn với Việt kiều sống ngoài nước, kể cả người nước ngoài. Chỉ xem báo chí
tường thuật lễ tang nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đông đến hàng vạn người đã đành, mà có điều
chưa từng thấy bao giờ trên đất nước ta là những người đi đưa tang, vừa đi vừa hát, dĩ
nhiên là hát Nhạc Trịnh; chỉ nhìn vào sách báo viết về Trịnh, Nhạc Trịnh dồn dập ra đời
trong vài ba năm sau ngày Trịnh “về làm” cát bụi, cũng đủ tin điều nói trên đây là sự thật.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời ngày 1- 4 - 2001, ngay sau đó chưa đầy một tháng đã có
sách Trịnh Công Sơn - Một người thơ ca, một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ
Kha, Đoàn Tử Huyến sưu tầm biên soạn (Nxb Âm Nhạc - Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ
Đông Tây, Hà Nội, 5 -2001), và vài năm sau (2004) bổ sung, tái bản với tên sách mới Một cõi
Trịnh Công Sơn (Nxb Thuận Hoá - Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây). Và cùng ra
đời là các sách: Trịnh Công Sơn - Cát bụi lộng lẫy (Nxb Thuận Hoá - Tạp chí Sông Hương);
Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ (Nxb Trẻ, 7 - 2001); Trịnh Công Sơn Rơi lệ ru người (Nxb Phụ nữ, quí II - 2001); Trịnh Công Sơn - Cuộc Đời - Âm Nhạc - Thơ Hội Họa & Suy Tưởng (Nxb Văn Nghệ TP. HCM, 11 - 2001); Trịnh Công Sơn: một nhạc sĩ
thiên tài (Bửu Ý - Nxb Trẻ - Công ty Văn hóa Phương Nam, 4 - 2003); Trịnh Công Sơn - Có
một thời như thế (Nguyễn Đắc Xuân - Nxb Văn học, 1 - 2003); Trịnh Công Sơn và cây đàn
lya của Hoàng tử bé (Hoàng Phủ Ngọc Tường - Nxb Trẻ, 2 năm 2005).
Sách in lại những bài viết khi Trịnh còn tại thế, nhưng phần lớn và cũng là phần tâm huyết
nhất, gây xúc động với người đọc nhiều nhất vẫn là sau ngày Trịnh qua đời. Chúng ta bắt
gặp ở đây nhiều tên tuổi quen thuộc không chỉ trong nhạc giới mà còn là văn giới, và các
ngành khác: Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát, Phạm Duy, Trần Văn Khê, Phạm Tuyên, Phó
Đức Phương, Hồng Đăng, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Anh Ngọc, Nguyễn Duy,
Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Sáng…
Kiều bào ta ở nước ngoài cũng rất mực ưu ái Trịnh. Đã có nhiều bài ngợi ca Nhạc Trịnh khi
tác giả còn sống. Trước năm 1975, Tạ Tỵ đã có thể viết: “Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam,
không nhạc sĩ nào có thể tạo cho mình, cho thế hệ mình những cơn lốc nghệ thuật làm lay
động đến chiều sâu tâm thức con người ở trong và ngoài kích thước quốc gia như Trịnh Công
Sơn”. Sau ngày Trịnh qua đời, trên các tạp chí Diễn đàn, Hợp lưu, Văn học, trên nhiều
website lại càng có thêm nhiều bài viết xúc động, sâu sắc về thế giới Nhạc Trịnh. Riêng tạp
chí Văn học đã dành một chuyên san về Trịnh. Năm 2008, Bùi Vĩnh Phúc - nhà phê bình
văn học ở Hoa Kỳ - đã xuất bản chuyên luận viết về Trịnh Công Sơn in tại Việt Nam: Trịnh
Công Sơn - Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật (Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008).
Nhạc Trịnh, đúng là trường hợp hiếm hoi trong nền nhạc của nước nhà, có khả năng vượt
ra ngoài phạm vi quốc gia. Tại các nước Mỹ, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Nhạc Trịnh đã có chỗ
đứng không dễ gì có. Riêng ở Nhật, Diễm xưa của Trịnh đã được dịch ra tiếng Nhật để hát
và được chọn làm nhạc phẩm chính cho một bộ phim của một hãng phim lớn, và là nhạc
phẩm Á Châu đầu tiên được đưa vào giảng dạy tại Viện Đại học Kansai Gakuin. Thêm nữa,
năm 1991, cô Yoshii Michiko đã làm luận văn thạc sĩ tại Pháp bằng tiếng Pháp về đề tài
Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn. Năm 2004, Giải thưởng âm nhạc hoà bình
thế giới (WPMA) được trao cho Nhạc Trịnh. Người Việt Nam ta, hẳn rất tự hào về Nhạc
Trịnh. Riêng với tôi là kẻ đến muộn, nhưng nhờ có mối quan hệ ruột rà giữa văn chương
mà tôi đã gắn bó một đời với ca từ của âm nhạc để từ đó trở thành người thần phục thế giới
phong phú, huyền diệu, lừng lững chất nhân văn muôn thuở đặc biệt là đậm đà triết lý cao
siêu hiếm thấy ở Nhạc Trịnh. Trước hết là ở ca từ. Với tôi, sự thần phục đã đi đôi với lòng
biết sơn. Biết ơn trong Nhạc Trịnh có tiếng gọi đàn, gọi đàn... da diết, điều tôi hằng mong
ước thiết tha đến cháy bỏng, thậm chí có kèm theo ít nhiều bức xúc trước sự khắc nghiệt
của trần gian. Tiếng gọi đàn trong Nhạc Trịnh là tiếng gọi người Việt Nam ta ơi! Hãy “Nối
vòng tay lớn”, “Hãy yêu nhau đi”, yêu nhau nhiều, nhiều, nhiều… nữa đi! Chúng ta đều là
con cháu vua Hùng. Tổ tiên ta từng dạy Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn. Đừng để bất cứ một thứ định kiến nhất thời nào, một thứ rào cản
nào ngăn trở. Hãy yêu nhau thêm nữa đi. Hãy “nối vòng tay lớn” thêm nữa đi. Và, tôi cũng
xin được cảm ơn Nhạc Trịnh đã cho tôi một sản phẩm nghệ thuật tuyệt vời để từ đó tôi có
đối tượng mà nghĩ về vấn đề thế nào là giá trị nhất thời, thế nào là giá trị vĩnh hằng trong
thế giới nghệ thuật mà với người đời vốn cũng không đơn giản. Với tôi, giá trị của Nhạc
Trịnh là trường tồn, là bất biến, dù cho sự khám phá, sự nhận chân giá trị đối với Nhạc
Trịnh vẫn còn phải đặt ra mãi mãi theo thời gian như đã từng đặt ra với các thiên tài nghệ
thuật khác.
Bạn đọc kính mến!
Từ những gì được thưa thốt trên đây, tôi lại thiết tha mong muốn quý vị hãy đến với cuốn
sách này của nữ soạn giả Ban Mai. Đến với nó, trước hết là đến với một trường hợp đam mê
Nhạc Trịnh tự thuở niên thiếu cho đến hôm nay Ban Mai đang làm việc tại một trường Đại
học, đã được đào tạo ở bậc thạc sĩ. Làm luận văn thạc sĩ, Ban Mai đã chọn đề tài Thân
phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn. Đây là vấn đề cốt lõi trong nội dung
ca từ của Nhạc Trịnh. Do đó, nhiều bậc thầy, bậc đàn anh đi trước đã có nói tới và nói đến
nhiều điều rất hay, nhưng chưa có điều kiện nói hết. Ban Mai, với yêu cầu của một luận văn
thạc sĩ, dĩ nhiên, trên cơ sở tiếp thu thành quả của người đi trước, phải có sự phát triển,
nâng cao bằng những phương pháp khoa học khác nữa, mà kết quả đã được ghi nhận. Nay,
từ luận văn thạc sĩ, đã có sự tu chỉnh, bổ sung thêm, tác giả chuyển lên làm sách. Sách gồm
hai phần chính:
Phần I. Tiểu luận về Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn. Phần II.
Văn bản ca từ Trịnh Công Sơn.
Với phần I, bạn đọc đã có điều kiện theo dõi ý kiến của những người đi trước, nay đọc
tiểu luận của Ban Mai chắc sẽ có sự đánh giá khách quan, công bằng đối với tác giả. Tôi
xin không nói gì thêm. Tôi muốn nói nhiều đến phần II. Quả thật theo tôi đây là việc làm
rất cần thiết trong công cuộc khám phá, chiếm lĩnh lâu dài đối với Nhạc Trịnh. Như mọi
người đã thừa nhận trong kho báu Nhạc Trịnh, lời ca, ca từ có một vị trí đặc biệt. Riêng
về ca từ, Trịnh Công Sơn đã hoàn toàn xứng đáng là thi sĩ lớn, thậm chí có người đã
mệnh danh là Nguyễn Du của thời nay. Ấy thế nhưng, hỏi đã có mấy ai được tiếp xúc với
khối lượng ca từ của Nhạc Trịnh một cách đầy đủ? Ngay đến con số nó là bao thì cũng
mỗi người nói một cách: 300?, 500?, 800? Mà nghe đâu, chính Trịnh Công Sơn cũng
không nhớ mình đã có bao nhiêu ca khúc. Phạm Văn Đỉnh, Chủ tịch Hội Văn hoá Trịnh
Công Sơn tại Pháp, đã công bố trên mạng thư mục bài hát Trịnh Công Sơn từ công phu
sưu tầm của mình là 288 bài. Từ thực tế đó, lần này, với cuốn sách của Ban Mai, in lại
242 văn bản ca từ của Nhạc Trịnh, với sự cho phép của người thừa kế bản quyền. Tôi
không chỉ hy vọng mà còn tin rằng tất cả những ai đã đam mê Nhạc Trịnh, hiện đang
trên con đường đến với Nhạc Trịnh, sẽ hân hoan chào đón. Con số 242 này, dù đã là kết
quả của một quá trình xông xáo, vất vả, thậm chí tốn kém của nữ soạn giả Ban Mai,
nhưng chắc chắn chưa đủ so với những gì Nhạc Trịnh đã có. Chỉ mong sao, sẽ có sự bổ
sung, đóng góp thêm của những ai thiết tha với kho báu Nhạc Trịnh. Và cũng xin đừng
quên chỉ bảo cho soạn giả Ban Mai những điều còn bất cập, thiếu sót, trong công trình
vốn là sản phẩm của nhiều năm tháng bằng niềm đam mê Nhạc Trịnh.
Hà Nội, vào Thu, Mậu Tý (2008)
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền âm nhạc Việt Nam, Trịnh Công Sơn được xem là một trong những nhạc sĩ viết lời ca
hay nhất, là phù thuỷ của ngôn ngữ [7, 8]. Gần nửa thế kỷ sáng tạo, Trịnh Công Sơn đã để lại cho
nền âm nhạc Việt Nam một di sản đồ sộ trên 300 ca khúc. Ca từ của ông đích thực là thơ. Một
kiểu thơ lãng mạn, trữ tình, giàu chất hiện sinh, siêu thực mang đậm dấu ấn Thiền, có giá trị
lớn về nội dung và nghệ thuật.
Thế nhưng, tìm hiểu giá trị ca từ của Trịnh Công Sơn mang tính học thuật trong trường học
đến nay vẫn còn bỏ ngỏ. Là người say mê Nhạc Trịnh, vì vậy, khi làm luận văn Cao học về Văn
học Việt Nam, tôi không ngần ngại chọn ca từ Trịnh Công Sơn làm đối tượng nghiên cứu, dưới
góc nhìn văn học.
Bên cạnh việc tìm hiểu giá trị ca từ và những đóng góp của Trịnh Công Sơn trong nền văn hóa
Việt Nam, công trình này trước tiên coi trọng về mặt cung cấp tư liệu. Trong điều kiện cho
phép, chúng tôi cố gắng sưu tầm, khôi phục tương đối đầy đủ những ca từ thất lạc của Trịnh
Công Sơn dựa trên các tạp chí, các website trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, chúng tôi
cũng sưu tầm gần như tất cả những bài nghiên cứu ở trong và ngoài nước với nhiều quan điểm
khác nhau. Điều này nhằm khách quan hoá cách nhìn trên tinh thần khoa học, vì trước đây do
hạn chế về mặt tư liệu, do cách nhìn phiến diện vì nhiều lý do, công chúng chưa hiểu thấu đáo
về cuộc đời và những giá trị nghệ thuật mà Trịnh Công Sơn đã cống hiến.
Nghiên cứu ca từ Trịnh Công Sơn, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Đặc biệt,
chú ý đến tính triết học trong ca từ họ Trịnh; phương pháp xếp chồng văn bản của Charles
Mauron; phương pháp liên văn bản do Mikhail Bakhtin đề xuất.[30] Mặc dù coi những ca từ của
Trịnh Công Sơn là những văn bản chính để khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi còn muốn dựa vào
một thứ “siêu văn bản” khác. Đó là hoàn cảnh xã hội, không khí thời đại, bầu khí quyển triết
học, chính trị trong đó những ca từ của ông ra đời, và sự giáo dục cá nhân của chính con người
nghệ sĩ. Tất cả những điều ấy cũng là những loại “văn bản khác”, qua đó, chúng tôi hy vọng sẽ
góp phần vào việc giúp nhìn rõ hơn chân dung tác giả, cũng như phát hiện phần chìm của tảng
băng trong ngôn ngữ Trịnh Công Sơn. [4]
Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với giáo sư Nguyễn Đình
Chú, người thầy đã cho tôi nhiều ý kiến quý giá trong quá trình hoàn thiện văn bản.
Xin trân trọng cảm ơn những lời chỉ giáo của ông Bửu Ý, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà
thơ Anh
Ngọc, Giáo sư Dương Viết Á, nhà văn Trần Hữu Thục (Hoa Kỳ), nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh
Phúc (Hoa
Kỳ).
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn Tiến sĩ Khoa học Phạm Văn Đỉnh - Chủ tịch Hội Văn hóa Trịnh
Công
Sơn (Pháp), và những người bạn Nam Dao, Trần Vũ, Nguyễn Hương, Thơ Thơ đã cung cấp cho
tôi nhiều tư
liệu quý báu.
Trân trọng cảm ơn cô Trịnh Vĩnh Trinh - đại diện pháp lý bản quyền tác giả - đã cho phép tôi
công bố văn bản ca từ Trịnh Công Sơn.
Cuối cùng, chân thành cảm tạ ông Đoàn Tử Huyến - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc biên tập hoàn chỉnh bản thảo cuốn sách này và đưa nó đến
tay bạn đọc.
Trong điều kiện hạn chế về mặt khả năng nghiên cứu, công trình chắc chắn còn nhiều
khiếm khuyết, tôi rất
mong nhận được sự chỉ bảo của quý bạn đọc.
Tháng 8/2008
BAN MAI
(Nguyễn Thị Thanh Thúy)
Phần I
TRỊNH CÔNG SƠN
VẾT CHÂN DÃ TRÀNG
I. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
1. VỀ THƯ MỤC BÀI HÁT
Công chúng thường phỏng đoán Trịnh Công Sơn đã sáng tác hơn 400 ca khúc, có người đã tăng
số ấy lên 600,
800 bài, thậm chí có người tăng đến 1000 bài, nhưng không ai đưa ra chứng cớ cụ thể, không
biết dựa vào tài liệu
nào để phỏng lượng như vậy. Chính Trịnh Công Sơn, lúc sinh thời, cũng không biết mình đã
viết bao nhiêu ca khúc
vì thời chiến tranh sống cuộc đời trốn tránh, lang bạt ông không có điều kiện giữ gìn, những
sáng tác ấy thất lạc khắp
nơi.
Năm 1991, cô Yoshii Michiko, một sinh viên người Nhật làm luận văn cao học về nhạc phản
chiến của Trịnh Công Sơn, đã sưu tầm được 196 bài hát, trên cơ sở tài liệu do chính Trịnh Công
Sơn cung cấp dựa vào trí nhớ tác giả hoặc của các ca sĩ. [64]
10 năm sau, khi Trịnh Công Sơn qua đời năm 2001, những bạn bè của ông ở trong nước và
ngoài nước cố công sưu tầm những bài hát của ông qua nhiều nguồn. Hiện nay trên mạng Hội
Văn hóa Trịnh Công Sơn, trong thư mục Bài hát, Ts.Kh. Phạm Văn Đỉnh đã kỳ công sưu tầm
được 288 bài, có chú thích năm tháng cẩn thận. Có lẽ đó là thư mục bài hát tìm được nhiều
nhất tính cho đến thời điểm hiện nay.
Khi sưu tầm ca từ Trịnh Công Sơn để nghiên cứu, bước đầu chúng tôi cũng gặp rất nhiều khó
khăn. Tuy
nhiên, qua thời gian dài sưu tầm công phu, cẩn trọng với những cứ liệu có được, chúng tôi
nhận định Trịnh
Công Sơn sáng tác khoảng trên 300 bài hát. Ts.Kh. Phạm Văn Đỉnh cũng đồng ý như vậy.
2. VỀ NHƯNG BÀI NGHIÊN CỨU
HIỆN TƯỢNG TRỊNH CÔNG SƠN
Âm nhạc của Trịnh Công Sơn, ngay từ khi mới ra đời và xuất hiện trước công chúng đã gây
được tiếng vang và nhanh chóng trở thành hiện tượng. Từ đó đã có những bài viết về nhạc của
ông. Chúng tôi tạm phân ra hai thời kỳ: Thời kỳ ông còn sống và sau khi ông mất.
Thời kỳ Trịnh Công Sơn còn sống: Qua tư liệu chúng tôi sưu tầm được, trước năm 1975 có vài
tờ báo viết
về hiện tượng nhạc Trịnh Công Sơn với những nhận định chung chung về thiên tài âm nhạc của
Trịnh. Như các
bài: Phong trào da vàng ca của Lê Trương, Trịnh Công Sơn của hoạ sĩ Tạ Tỵ, Huyền thoại về
con người của Tô
Thùy Yên. Trong các bài viết đó, nhận định của Tạ Tỵ rất đáng chú ý. Ông cho rằng: “Trong lịch
sử âm nhạc
Việt Nam, không nhạc sĩ nào có thể tạo cho mình, cho thế hệ mình, những cơn lốc nghệ thuật
làm lay động đến
chiều sâu tâm thức con người ở trong và ngoài kích thước quốc gia như Trịnh Công Sơn. Trong
vòng 4-5 năm
trở lại đây, tiếng Nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly đã đi hẳn vào đời sống tâm linh
của những
người trẻ tuổi bằng niềm đau xót và phẫn nộ xen kẽ trong một hoàn cảnh không mấy thuận lợi
vì tình hình quân
sự và chính trị”.[45] Nhìn chung, các bài viết trên chỉ cho ta cái nhìn toàn cảnh về âm nhạc
Trịnh Công Sơn
trong bối cảnh xã hội chiến tranh loạn lạc lúc bấy giờ, không có bài viết nào nghiên cứu sâu về
ca từ Trịnh
Công Sơn.
Đến năm 1991, khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn còn sống, có một luận văn cao học viết về nhạc của
ông, do
cô Yoshii Michiko người Nhật nghiên cứu với đề tài Những bài hát phản chiến của Trịnh Công
Sơn, viết bằng tiếng Pháp, đánh máy chữ rất thoáng, mỗi trang chứa khoảng 20 hàng, có lẽ với
máy đánh chữ Olympia của
Nhật, cho phép gõ phím với dấu tiếng Việt. Gồm tất cả 135 trang, kể cả trang tựa và phần phụ
lục. Đã được bảo
vệ tháng 9/1991 tại Đại học Paris 7. Bản dịch tiếng Việt tôi hiện có, đánh máy vi tính khoảng
60 trang (phần bài
viết). Luận văn này giới thiệu những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn, nhằm chứng minh
đó là những
kiệt tác về âm nhạc, từ đó giúp người nghe nhạc hiểu tốt hơn về những bài hát phản chiến của
ông.[64]
Tóm lại, trong khoảng thời gian Trịnh Công Sơn còn sống, việc nghiên cứu ca từ của Trịnh
Công Sơn rất hạn chế, do nhiều nguyên nhân: trước năm 1975 do chiến tranh loạn lạc, sau năm
1975 trong quan điểm chính thống có nhiều luồng tư tưởng còn cực đoan, phiến diện. Đây đó,
trên những tờ báo trong nước và nước ngoài chỉ giới thiệu về hiện tượng nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn trong âm nhạc và trong cuộc đời, chưa đi sâu khai thác những đóng góp của ông về nghệ
thuật ca từ.
Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời ngày 01/04/2001, người ta mới nghiên cứu nhiều về cuộc đời
và những sáng tác của ông.
Tại Việt Nam
Có nhiều tác phẩm của Nhiều tác giả biên soạn, lần lượt ra đời tập họp những bài phê bình của
các tác giả trong và ngoài nước (lấy lại trên các trang web hải ngoại và được biên tập lại) gồm
những bài phỏng vấn, những bài nghiên cứu, cảm nghĩ của bạn bè.
Sau 01/04/2001, cuốn sách ra đời đầu tiên viết về người nhạc sĩ vừa quá cố là cuốn Trịnh
Công Sơn - Một người thơ ca một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử
Huyến sưu tầm và biên soạn; sau đó được bổ sung, biên soạn lại và xuất bản lại với tựa đề Một
cõi Trịnh Công Sơn (2004).
Tiếp theo, lần lượt được phát hành các cuốn Trịnh Công Sơn - Cát bụi lộng lẫy, Trịnh Công Sơn
- Người hát rong qua nhiều thế hệ, Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người, Trịnh Công Sơn - Cuộc đời,
âm nhạc, thơ, hội họa & suy tưởng.
Ngoài ra còn có các tác phẩm khác của Bửu Ý, giảng viên tiếng Pháp Trường Đại học Sư phạm
Huế, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà nghiên cứu xứ Huế Nguyễn Đắc Xuân.
Ở đây, chúng tôi điểm qua 3 tập tiêu biểu của Nhiều tác giả:
Thứ nhất là tập Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người do Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành năm 2003,
dày 208
trang. Cuốn sách nhỏ, khiêm tốn, in thoáng, chữ rõ, tâp hợp một số bài viết thiên về người mẹ,
người phụ nữ.
Nổi bật trong tập sách này có bài Kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận của Bửu Ý, với
những nhận
định sắc sảo: “Tình yêu, với Trịnh Công Sơn, là diễm tình. Trước hết là phải đẹp, đẹp trong
từng lời bội bạc,
bước chân quay gót, trong dang dở và tan vỡ… Cái đẹp ở đây là cái đẹp siêu thực, tức là ít nhiều
nhuốm màu
sắc ý chí của kẻ chủ trương và đồng thời nhạt bớt hương vị của thường tình… Quê hương nổi
bật hai nét lớn:
nghèo và chiến tranh. Cái nghèo còn là hậu quả của chiến tranh. Và chiến tranh diễn ra không
phải ở chiến
trường, không phải do người cầm súng, nó diễn ra ở bàn tròn, ở trong lòng người, ở trong đầu
óc những con
người mua bán chiến tranh… Trịnh Công Sơn quả quyết “Chỉ có ta trong một đời” và dứt khoát
chọn lựa:
Sống, Sống hết mình. Không khất hẹn, không chờ đợi, không ủy quyền… Phải ôm cho hết cuộc
đời nhị nguyên
cồm cộm này, bao gồm những cặp phạm trù khó dung nạp nhau nhưng khó phân ly: sống/chết;
buồn/vui; hạnh
phúc/khổ đau”. [55;125-136]
Thứ hai là tập Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ, của Nhà xuất bản Trẻ, 2004,
dày 416
trang. Bìa cứng, có chân dung tự họa của Trịnh Công Sơn, năm 1999, sau một cơn bịnh “thập tử
nhất sinh”. Ấn
phẩm này trình bày đẹp, in ấn trang nhã, tập hợp 26 bài viết của Trịnh Công Sơn, 28 bài viết về
Trịnh Công Sơn
trước ngày 1/4/2001, 87 bài của bạn bè sau 1/4/2001 và một số hình ảnh tư liệu về Trịnh
Công Sơn. Nổi bật có
bài Hành tinh yêu thương của Hoàng tử bé của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhận định về tình ca,
nhà văn họ
Hoàng cho rằng: “…Với Sơn, Người Tình là người đối thoại cần thiết, và vì thế trong tình ca
Trịnh Công Sơn,
người nói không là “Anh” mà là “Tôi và Em”. Hai tiếng Anh - Em ngọt ngào đó hình như không
thích hợp với những điều cay đắng. Không thích hợp với nhiều thứ gai góc cuộc đời, như thân
phận, cái chết và nỗi tuyệt vọng: “Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng tuyệt
vọng”. Đến đây thì mọi sự đã ngã ngũ, rằng Tình ca Trịnh Công Sơn chính là siêu hình học, và vì
thế không bao giờ cũ”.[37;128]
Thứ ba là tập Một cõi Trịnh Công Sơn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ
Đông Tây, 2004, dày 650 trang. Công trình gồm 51 bài viết của 43 tác giả, trong đó có nhiều bài
trùng với tập Người hát rong qua nhiều thế hệ, phần Phụ lục 1 có văn xuôi Trịnh Công Sơn, đặc
biệt có truyện ngắn Chú Lộ, và phần Phụ lục 2 gồm 73 ca từ của Trịnh Công Sơn.
Đánh giá về ca từ Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Phạm Tuyên viết: “Trong lĩnh vực ca khúc, lời ca có
một vị trí
hết sức quan trọng và về mặt này Trịnh Công Sơn thực sự là một nhà thơ. Lời ca anh không dễ
dãi tùy tiện, mà
luôn luôn ẩn sâu một triết lý về cuộc đời và điều đáng nói là anh đã tìm được những giai điệu
phù hợp, dung
dị, không cầu kỳ, kiểu cách để thể hiện nội dung đó. Đối với người sáng tác, có được một phong
cách riêng
là một điều phải phấn đấu. Trịnh Công Sơn không chủ tâm tạo cho mình một sự khác biệt lập
dị, nhưng bằng
tình cảm chân thành của mình, anh đã có được một phong cách rất riêng được sự mến mộ của
đông đảo
công chúng. Sẽ còn có nhiều công trình nghiên cứu về hàng trăm ca khúc của anh với những sự
đánh giá có
thể khác nhau, nhưng phải khẳng định rằng sự nghiệp sáng tác của anh đã góp phần xứng đáng
vào nền ca
khúc Việt Nam hiện đại”. [36; 463]
Ngoài ba tập sách của Nhiều tác giả trên, còn có ba tác phẩm cá nhân:
Thứ nhất là tập: Trịnh Công Sơn một nhạc sĩ thiên tài (2004) của Bửu Ý - một người bạn thân
từ thời trai trẻ của Trịnh, hiện đang giảng dạy tiếng Pháp tại Trường Đại học Sư phạm Huế.
Ông viết lại từng chặng đời của Trịnh Công Sơn và phân tích một số chủ đề và nghệ thuật ngôn
ngữ trong ca từ, bên cạnh còn có những thủ bút của Trịnh. Ngoài ra Bửu Ý còn cung cấp một số
bài viết của người nước ngoài viết về Trịnh Công Sơn.
Tiếp đến, nhà nghiên cứu xứ Huế Nguyễn Đắc Xuân cho ra đời tác phẩm Trịnh Công Sơn - Có
một thời như thế
(2003). Những tư liệu sưu tầm tương đối đáng tin cậy ấy đã cho ta một cái nhìn xác đáng về
cuộc đời của Trịnh. Bên
cạnh đó, tác giả đã có công trong việc truy tìm lại bài Dã Tràng ca (còn có tên Trường ca Tiếng
Hát Dã Tràng),
được sáng tác thời học Sư phạm Quy Nhơn bị thất lạc đến nay.(1)
(1) Sau khi Nguyễn Đắc Xuân công bố, có người gia đình Trịnh Công Sơn tuyên bố trước báo
chí bài Dã Tràng ca từ đó đến bấy giờ vẫn nằm trong nhà.
Riêng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường - bạn thân của Trịnh - ngoài bài viết Hành tinh yêu
thương của Hoàng tử bé in ở tập Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ còn cho
xuất bản tập Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của Hoàng tử bé (2005) với những bài tùy bút viết
về kỷ niệm của hai người và những cảm nhận về nhạc phản chiến, tình ca Trịnh Công Sơn.
Tại Hải Ngoại
Ngay từ ngày 02/04/2001, sau khi Trịnh Công Sơn vừa mất một ngày, Diễn đàn là tạp chí đưa
tin và có bài viết sớm nhất về ông, chủ yếu là tập hợp các bài viết của bạn bè sinh sống ở Âu,
Mỹ. Tiếp đó, trung tuần tháng 4/2001, tạp chí điện tử Văn học Nghệ thuật đã nhanh chóng đưa
lên mạng Phụ trương Đặc biệt, phong phú và đa dạng với nhiều bài viết từ trong và ngoài nước,
chủ yếu là kể lại những kỷ niệm và cảm xúc của bạn bè dành cho Trịnh Công Sơn.
Tạp chí Hợp Lưu (2001) tại Hoa Kỳ dành 72 trang đầu viết về ông. Trong đó, có bài Chiêm
ngắm đóa hoa
vô thường của Hà Vũ Trọng, khẳng định nhạc của ông là thơ, ông viết: “Chúng ta yêu Nhạc
Trịnh Công Sơn vì
trong nhạc của anh có thơ. Vậy, chúng ta có được cả hai. Tự thơ đã là một loại nhạc biểu hiện
cái đẹp và sự
hài hòa của chữ nghĩa. Nhạc thơ ở anh song sinh từ niềm thôi thúc muốn tỏ tình với cuộc đời.
Nhạc thơ đó
cũng lung linh ảo diệu như bóng trăng in trên mặt nước mà chúng ta thường không phân biệt
nổi đâu là nhạc là thơ. Nếu nhạc là con sông thì thơ là con trăng nhập vào mặt nước thành con
thuyền chở tình yêu của anh. Nói cách khác, thơ và nhạc là đôi cánh để bay chở tình yêu trong
những ca khúc của Trịnh Công Sơn, không thể tách lìa được”. [48;17]
Đặc biệt, tạp chí Văn học (2001) tại California, Hoa Kỳ dành nguyên một ấn bản với chủ đề:
Trịnh Công Sơn Tình yêu, quê hương, thân phận, gồm 20 bài, dày 245 trang. Tranh bìa do họa
sĩ Đinh Cường vẽ. Trong đó, có bài nghiên cứu Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn của nhà
văn Trần Hữu Thục (Hoa Kỳ) rất công phu, ông so sánh kỹ thuật viết của Trịnh Công Sơn khi
viết về hai dòng nhạc tách bạch: dòng nhạc về chiến tranh - hòa bình, và dòng nhạc về tình yêu,
thân phận. Ông nhận định “… Trong hầu hết những bài hát thuộc loại chiến tranh và hòa bình,
anh viết bằng một lối viết rất hiện thực, kể cả khi mô tả những giấc mơ, những ước vọng. Hiện
thực kinh khiếp đó được mô tả bằng chữ nghĩa sống động và đầy hình ảnh: trái tim rơi theo đại
bác, thịt người cho thú nhai ngon, thịt xương đã phơi đồng xanh, đại bác ru đêm dội về thành
phố… Mọi sự hoàn toàn khác hẳn khi ta bước vào tình ca và thân phận. Tất cả bắt đầu chông
chênh ở biên giới chữ nghĩa, ý tưởng bởi vì có một sự pha trộn đặc biệt giữa nhiều hình ảnh và
ý tưởng cũng như ẩn dụ… tạo ra những hình ảnh, biểu tượng mới và rất nhiều khi tạo nên
những hiệu ứng đặc biệt về mặt âm thanh: tuổi đá buồn, nắng khuya, mặt trời ngủ yên, miệng
ngọt hạt từ tâm.”. [50; 57-58]
Và kỳ công hơn là bài viết của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc (Hoa Kỳ), Trịnh Công Sơn,
ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật. Bằng phương pháp thi pháp học, kết hợp với phương
pháp xếp
chồng văn bản (superposition) của Charles Mauron và phương pháp liên văn bản nói chung,
ông khảo sát
kỹ thời gian, không gian nghệ thuật và cách sử dụng ngôn ngữ kỳ ảo trong các ca khúc của
Trịnh Công
Sơn. Theo ông, trong nhạc Trịnh Công Sơn, chủ yếu có những loại thời gian nghệ thuật sau:
thời gian phai
tàn, thời gian tiếc nuối, thời gian trông ngóng, thời gian hướng vọng thiên thu, và thời gian
thực tại. Không
gian nghệ thuật bao gồm không gian Trời đất, không gian Núi và Biển, không gian Sông, không
gian
Rừng, không gian Phố, với những biểu tượng gắn vào các không gian này như Sóng, Mây, Mưa,
Nắng,
Mặt trời, Mặt trăng... Ngôn ngữ nghệ thuật trong ca khúc Trịnh Công Sơn kỳ ảo vì chúng thường
được kết
hợp với nhiều biện pháp tu từ. Và cuối cùng ông kết luận: “Trịnh Công Sơn là một thi sĩ. Anh
sống trong
thời đại của mình, và anh có những giấc mơ. (...) Có lẽ, nếu muốn, chúng ta cũng thấy được tầm
cỡ của
thời đại mình qua những giấc mơ và thế giới mà Trịnh Công Sơn đã sống, đã yêu và đã cùng
xót xa với
chúng”.[46; 172]
Kế đến là bài Trịnh Công Sơn, tiếng hát hòa bình của nhà phê bình Đặng Tiến (Pháp), bàn về ca
khúc
phản chiến, ông giải thích: “Dùng chữ nhạc phản chiến, theo kiểu anti-guerre, anti-war, là nói
cho gọn, và đã
có người phản bác, cho rằng mông lung, vì người nghệ sĩ chân chính nào mà không chống
chiến tranh? Ngoài
ra, những ca khúc Trịnh Công Sơn tố cáo chiến tranh, gào gọi hòa bình còn bày tỏ khát vọng
thống nhất đất
nước, tình tự dân tộc, tình yêu nhân loại, niềm tin vào cuộc đời, tình người và hạnh phúc lứa
đôi. Những tình
cảm này đan quyện vào nhau. Hơn nửa một số nhạc tình thuần túy, nội dung không quan hệ
đến chiến tranh,
khi nghe trong đám đông, cũng tạo nên một cảm giác thời thế, từ một thời phản chiến”. [10;
176]
Bên cạnh những tác phẩm trên, còn phải kể đến một số bài phê bình khác in trên tạp chí và
trên mạng rất
công phu như Ảo giác Trịnh Công Sơn của Lê Hữu (Hoa Kỳ), nói về những ảo giác mà ca từ
Trịnh Công Sơn
tạo ra. Tuy bài viết có nhiều quan điểm phiến diện, nhưng phần phân tích ca từ rất kỳ công và
nhiều chỗ tinh tế.
Bài viết đăng trên tạp chí Văn học tại California, Hoa Kỳ tháng 02&03/2004; và trên mạng tcshome.org.
Ngoài những công trình trên, chúng tôi còn tìm thấy các bài sau đây:
Nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn, của giáo sư Cao Huy Thuần (Pháp) trong Đêm
tưởng niệm
Trịnh Công Sơn do Hội Văn hoá Trịnh Công Sơn tổ chức tại Paris, 3/5/2003, “thuyết văn” sắc
sảo về nội dung
những bài hát chủ đề này, đăng lại trên mạng tcs-home.org; Thời thanh xuân Trịnh Công Sơn
của Sâm Thương
(tcs-home.org); Trịnh Công Sơn và Những Phố Xa, của Ngự Thuyết (Hoa Kỳ) trên mạng
(suutap.com) phân
tích kỹ về không gian phố trong ca từ Trịnh Công Sơn. Tiếng Việt trong dòng Nhạc Trịnh Công
Sơn của Phạm
Bân (suutap.com); Bài phỏng vấn Khánh Ly của nhà báo Bùi Văn Phú tại Hoa Kỳ tháng 7/2004,
nguồn Tạp chí
Văn (California) số 92, tháng 8/2004; Cái chết, Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc
Trịnh Công Sơn
(2007) của John C. Schafer (talawas.org); (tcs-home.org), tóm lược lại từ văn bản tiếng Anh rất
đồ sộ. [65]
Ngoài nữa còn có nhiều trang web tập hợp tất cả hình ảnh, bài hát, đĩa nhạc, bài viết, phê bình,
thủ bút của ông, cập nhật thường xuyên. Như trên trang web suutap.com tại Mỹ và tcshome.org tại Pháp.
Nhìn chung, điểm qua các công trình nghiên cứu, sưu tầm được, chúng tôi nhận thấy như
sau:
- Theo thời gian, các công trình nghiên cứu đã cố gắng dựng lại trung thực cuộc đời âm nhạc
của Trịnh Công Sơn trong bối cảnh đất nước trước và sau chiến tranh 1975.
- Hầu như các nhà nghiên cứu đều khẳng định Trịnh Công Sơn là một hiện tượng văn hóa lớn
trong thế kỷ XX, ông không những là một tài năng lớn trong âm nhạc mà còn là một nhân cách
lớn trong một bối cảnh Việt Nam đầy biến động.
- Nghiên cứu, đánh giá Trịnh Công Sơn nhìn chung thường trong trạng thái hỗn hợp giữa nhạc
và lời. Nhưng dù vậy, căn cứ trực tiếp hơn vẫn là thiên về phần lời, phần ca từ. Nghiên cứu về ca
từ, phần lớn các công trình nghiên cứu đều phân tích phong phú các chủ đề mà nội dung ca từ
Trịnh Công Sơn phản ánh, đồng thời lý giải về mặt sử dụng nghệ thuật ngôn từ một cách tài
hoa trong các ca khúc của ông.
Cụ thể bàn về nội dung ca từ của Trịnh Công Sơn, hầu hết các bài nghiên cứu đều nhận định
“Thân
phận con người và tình yêu” là hai chủ đề nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của ông. Thân phận
con
người của ông thường mang những cặp phạm trù đối lập sống/chết; buồn/vui; hạnh phúc/khổ
đau. Ông
ám ảnh phận người mong manh, chóng tàn. Tình yêu với người nữ của Trịnh Công Sơn là thứ
tình yêu
sương khói, lãng đãng, dở dang. Còn tình yêu con người trong ông, là tình yê...
 





