Chủ tịch Hồ Chí Minh và tầm nhìn chiến lược về thời đại mới trong tuyên ngôn độc lập
Thiên Nhiên Đất Nước Ta - Dạt Dào Sông Nước

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:47' 11-03-2024
Dung lượng: 19.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:47' 11-03-2024
Dung lượng: 19.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
THIÊN
NHIÊN
ĐÂT
Nưỡc
NGUYỄN NHƯ MAI - NGUYỄN HUY THANG - NGUYỄN QUỐC TÍN
DẠT
SÔNC NƯÒC
TA
THI EN
NHIEN
ĐA
VA
' fí
NGUYỄN NHƯ MAI - NGUYỄN HUY THANG - NGUYỄN QUỐC TÍN
DẬT DÀỌ
SÔNC NƯÒC
NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỐNG
Thiên nhiên đất nước ta - Dạt dào sông nước
® Nguyễn Như Mai, Nguyên Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín
Xuất bản theo Hợp đóng sử dụng tác phẩm
giữa nhóm Tác giả và Nhà xuất bản Kim Đồng, 2015
Bản quyền hình ảnh bìa, minh họa thuộc về Nhà xuất bản Kim Đổng, 2016
Vè bìa và minh họa: Nguyễn Doãn Sơn
Trình bày bìa: Tô Hổng Thủy
Biin mục trên xuít b in phím cùa Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyịn Như Mai
Dạt dào sông nước/Nguyễn Như Mai, Nguyên HuyThâng, Nguyẻn QuỗcTln. - H .: Kim Đóng, 2016. - 228tr.:
tranh v ẽ ; 21 cm. - (Thiên nhiên đát nước ta)
ISBN 9786042057547
1. Tài nguyên nước 2. Sông 3. Việt Nam
333.916209597 - dc23
KDF0405p-CIP
LỜ I NÓI ĐẦU
N on - Sổng, Đ ất - N ước, Gừmg - Sơn' tổ hợp hai từ ấy, hai
yếu tố ấy tạo nên một từ thiêng liêng: T ổ quốc.
T ổ quốc không chỉ là khái niệm chung chung, mơ hồ, mà
chính là sông là núi, là mảnh đất tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên,
đã dùng sức lao động đ ể tô điểm và dùng máu xương đ ể bảo vệ.
Càng hiểu và bịết về thiên nhiên đất nước, ta càng thêm yêu,
thêm tự hào về T ổ quốc. Đ ể có sự hiếu biết về non nước mình,
chúng ta phải học trong nhà trường, đọc trong sách báo và trải
nghiệm trong thực tế. Đồng thời, lại phải có ý thức thường xuyên
bồi bổ các kiến thức về đm lí, về thiên nhiên rất cần thiết cho mỗi
con người trong cuộc sống và cả trong công việc sau này. Bạn cần
biết về cương vực, lãnh thổ đất nước khi muốn di vào nghiệp văn
chương, sử học, ngoại giao. Bạn cần thông thuộc đừi hình, đừi mạo
khi làm quy hoạch hay kiến trúc. Bạn càng cần nắm rỗ về sông,
núi, biển, rừng của T ổ quốc nếu bạn làm nông nghiệp, khai thác
tài nguyên hay thương m ại... Khỏi phải nói, trong cuộc sống hằng
ngày, những k iấ i thức ấy giúp ích thế nào khi bạn đi du lịch khám
phá; sự hiểu biết sẽ làm cho bạn có ấn tượng sâu sắc hơn và thu
lượm được nhiều điều bổ ích hơn sau mỗi chuyến đi...
Bộ sách về thiên nhiên đất nước Việt N am mà chúng tôi g iă
thiệu với bạn đọc, đặc biệt với các bạn trẻ, chính là nhằm đem đến
những kiến thức bổ trợ giúp tăng cường vốn hiểu biết về địa lí của
bạn, v à ' điều này mới là mục đích chính của bộ s á c h ' nhằm khơi
gợi tình yêu của mối người chúng ta đối với non sông đất nước
mình, bắt đầu từ ý thức tìm hiểu và nhận biết rõ về sông, núi quê
hương, biển, rừng T ổ quốc. Trước mắt, bộ sách sẽ bao gồm bốn
cuốn về núi non, sông ngòi, rừng và biển.
M ặc dù nhóm biên soạn đã cố gắng sưu tầm tư liệu, cập nhật
những thông tin mới và viết sao cho thấu đáo, d ễ hiểu, d ễ tiếp
nhận, song chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong
bạn đọc góp ý bổ khuyết cho bộ sách. Xin chân thành cám ơn!
NHÓM BIÊN SOẠN
4
V IỆT NAM: ĐẤT Nước
CỦA NHỮNG DÒNG SÔNG
TÁN MẠN VỂ GIỌT N ư ổ c
Bạn hãy nhìn một giọt nước long lanh treo trên ngọn
cỏ, treo trên mái tranh. Giọt nước nhỏ bé ấy mới đẹp làm
sao, nó phản chiếu cả đất trời, lung linh bảy sắc cầu vồng.
Giọt nước ấy chứa biết bao điều kì lạ.
Chúng ta quen gọi hành tinh của mình là Trái Đất.
Nhưng nếu xét tổng thể thì phải gọi là Trái Nước mới đúng.
Bạn nhìn trên quả địa cầu mà xem: Hơn ba phần tư bề mặt
Trái Đất được bao phủ bởi đại dương. Địa cầu như một giọt
nước khổng lồ bay vòng quanh Mặt Trời, xoay tròn trong
không gian vũ trụ.
Cái giọt nước có công thức hóa học "Hát Hai Ô" (H p )
này thật có nhiều điều lạ. Trông thì trong suốt, lại chẳng có
mùi có vị gì. Nhưng chĩ có nó là loại vật chất có thể tồn tại
ở cả ba trạng thái: lỏng, rắn và khí.
Nước đóng băng ở 0°c, nhưng băng lại nhẹ hơn nước
bình thường. Cứ tưởng tượng, nếu băng nặng hơn nước thì
tại các đại dương, nhất là ở hai cực, khi nhiệt độ lạnh dưới
không độ, băng sẽ chìm xuống đáy, và cứ tích tụ dày lên
mãi thì bên dưới biển, dưới hồ chẳng còn cá mú hay sinh
vật nào sống được. Tất cả sẽ là những khối hóa thạch băng!
Nước luôn chảy xuống chỗ trũng? Không hẳn. Trong
các mao mạch nó lại bị hút ngược lên trên. Chính nhờ đó
mà thân cây hút được nước và chất khoáng từ rễ lên nuôi
sống cây.
Cho đến nay, còn nhiều giả thuyết về nguồn gốc sự
sống nảy sinh từ đâu, nhưng các nghiên cứu về cổ sinh học
cho thấy, sự sống trên Trái Đất đã được hình thành và phát
triển từ trong lòng biển cả, rồi sau đó mới tiến lên đất liền.
Giáo sư Neil Shubin người M ĩ viết một cuốn sách phổ
biến khoa học rất hay, đã được dịch ra tiếng Việt với tiêu
đề Tất cả chúng ta đều là cá. Câu chuyện bắt đầu bằng
việc phát hiện ra hóa thạch loài cá Tiktaalik sống cách đây
Cá Tiktaalik
375 triệu năm. Từ loài cá này, các nhà cổ sinh học đã tìm
ra sự khởi đầu của quá trình tiến hóa của bàn tay. Trải qua
hàng trăm triệu năm, từ chiếc vây cá Tiktaalikâã phát triển
thành bàn chân các loài bò sát như cá sấu, ếch nhái khi
bò lên cạn, thành bộ xương cánh chim khi bay lên không
và cuối cùng là xương bàn tay có năm ngón của loài người.
Cũng như vậy, cái đầu, cái răng, cái tai, đôi mắt của chúng
ta cũng đều mang di sản của tổ tiên nguyên thủy sống dưới
nước. Cây phả hệ của loài người vốn từ những loài như sứa,
rồi đến các loài có cấu tạo cơ thể, tiếp đến có hộp sọ, có
bàn tay và bàn chân, có ba xương ở tai giữa, cuối cùng đi
bằng hai chân và có bộ não lớn. Như vậy, nếu nói rằng tất
cả chúng ta đều "xuất thân" từ loài cá sống dưới nước quả
cũng không ngoa.
Trong cơ thể con người, nước chiếm tỉ lệ khoảng 60
- 70%, tỉ lệ nước trong bào thai và trẻ sơ sinh còn tới trên
90%!
Để sống, con người cần ăn và cần uống. Xem ra chịu
đói còn cầm cự được lâu hơn là nhịn khát nhiều.
Tất nhiên, con người cũng phải ăn mới sống được.
Thức ăn là do cây cỏ và động vật cung cấp. Nguồn thức ăn
ấy cũng phải có nước mới được sản sinh ra. Nước ta vốn
là một nước nông nghiệp, lấy trồng lúa nước làm chính.
Trong quá trình sản xuất, cha ông ta đã đúc rút kinh nghiệm
thành bốn chữ "Nước, Phân, cầ n , Giống", trong đó Nước
là yếu tố đứng đầu.
TẢN MẠN VỀ CON SỒNG
Trong tiếng Việt, mạo từ "con" thường để chỉ các loài
vật như con chim, con sâu, con gà, tức là những vật sống,
vật chuyển động.
"Cái" để chỉ những vật vô sinh, bất động như cái bàn,
cái bát, cái nhà.
Nhưng đôi khi từ "con" cũng được dùng với những thứ
không phải là sinh vật, nhưng luôn có sự chuyển động, như
con mắt, con thoi, con thuyền... và con sông.
Dòng nước chảy trong con sông giống như mạch máu
trong cơ thể con người, luôn chuyển động, luôn thay đổi.
Không có nước không thể có sông ngòi.
Nơi quy tụ của giọt nước là biển cả mênh mông. Ánh
nắng mặt trời chói chang tỏa sức nóng xuống làm mặt nước
bốc hơi. Hơi nước bốc lên trời thành những đám mây bay.
Mây gặp lạnh tụ lại thành những giọt nước, đến một lúc
nào đó thành mưa rơi xuống. Mưa tí tách, mưa ào ào đổ
nước xuống mặt đất, xuống rừng núi, đồng ruộng. Một phần
nước ngấm xuống dưới đất, phần lớn trút vào suối, vào sông
thành dòng chảy ào ạt trôi trở lại biển cả. Cuộc phiêu lưu
của giọt nước cuối cùng lại trở về quê hương.
Trong vòng tuần hoàn ấy, sông suối đóng vai trò trung
chuyển. Nhờ có sông suối mà cây cối, lúa ngô có nước
tưới nhuần, con người và muôn loài có nước để uống, để
sinh sống.
8
Ta hãy mường tượng mưa rơi xuống đỉnh núi, những
giọt nước mưa không phải lúc nào cũng được đàn đúm bên
nhau, mà sẽ phải chia tay nhau, giọt chảy về sườn bên này,
giọt chảy xuông sườn bên kia. Nôi liền các đường đỉnh núi
lại với nhau, ta có đường phân thủy hay đường chia nước.
Nước từ đường chia nước chảy róc rách len lỏi qua
những khe rãnh, đào thành các con ngòi, con suô1 nhỏ,
dồn nước xuống bồn thu nước. Nhiều con suối hợp nhau lại
thành sông nhỏ, nhiều sông nhỏ gặp nhau tạo thành sông
lớn. Phần lớn các con sông bắt nguồn từ núi cao. Độ dốc
càng lớn thì nước chảy càng mạnh. Phần phía trên của
con sông gọi là thượng lưu hay thượng nguồn. Do độ dốc
cao nên có thể ví lúc này sông đang ở giai đoạn tuổi trẻ,
như chàng trai sung sức phá lối mở đường tả xung hữu đột
qua các triền đá hai bên. Dòng sông vượt qua những thác,
ghềnh, tung bọt trắng xóa, réo vang như tiếng sấm. Lòng
sông có mặt cắt hình chữ V.
Thường có vài ba dòng sông nhỏ được gọi là phụ lưu
gặp gỡ, hội tụ lại thành dòng sông lớn chảy xuống miền
đồi thấp, chảy qua các thung lũng kéo dài. Địa hình bằng
phẳng hơn nên dòng sông như bước vào tuổi trung niên,
rộng hơn, đĩnh đạc hơn, dòng nước vẫn chảy mạnh mẽ
trong "huyết quản", nhưng không hung hăng phá đá nữa
mà bắt đầu lắng đọng cát sỏi và phù sa, tạo nên những bãi
bồi và bậc thềm. Lòng sông bây giờ có hình chữ u.
Dòng sông phía hạ lưu bước vào tuổi già từng trải, tính
tình hiền hòa, thong dong chảy (tất nhiên cũng có lúc nổi
giận đùng đùng khi có mưa to bão lớn). Dòng sông chở phù
sa từ khắp các nẻo đầu nguồn đem về bồi tụ thành đồng
bằng màu mỡ. Vì không còn độ dốc đáng kể, nên sông
chảy quanh co uốn khúc bên lở bên bồi. Một khi dòng bị
uốn cong, sông lại tìm đường đi thẳng, khúc uốn bị tách ra
thành ao hồ hình móng ngựa. Để thoát nước, dòng chính
lại chia sẻ thành các chi lưu, tìm đường ra biển bằng một
hoặc vài ba cửa khác nhau.
Đồng bằng do sông tạo ra thường có dạng xòe nan quạt
hay dạng tam giác. Người ta gọi đó là châu thổ.
"Cuộc đời" của con sông gắn bó với đời sống của xã
hội loài người. Từ những đồng bằng phì nhiêu do phù sa
bồi đắp, những nền văn minh nổi tiếng của loài người đã ra
đời: Văn minh sông Nile ở Bắc Phi; Văn minh Lưỡng Hà ở
Cận Đông; Văn minh Sông Ân ở Ân Độ; Văn minh Hoàng
Hà ở Trung Quốc...
Trên đất nước ta, sông Hồng hình thành nên đồng bằng
Bắc Bộ, tạo nên nền Văn minh Sông Hồng có đặc thù của
một nền văn minh lúa nước.
Sông ngòi cũng là mạng lưới giao thông sẵn có cho con
người khi đường bộ chưa phát triển. Chính vì vậy, hầu hết
các làng mạc, đô thị thường được hình thành trên các triền
sông. Nơi không có sông, người ta phải đào thêm các kênh
đào để đưa nước về.
10
Dòng sông cuồn cuộn chảy cũng là nguồn năng lượng
dồi dào để xây dựng những nhà máy thủy điện cung cấp
điện năng cho nhu cầu dân sinh.
Con sông cũng không tồn tại mãi mãi, có những con
sông "bị bệnh" do nước sông ô nhiễm nặng nề, có những
con sông bị vùi lấp trở thành sông chết.
VIỆT NAM - Xứ SỞ CỦA NHỮNG DÒNG SÔNG
Đất nước ta có núi non trập trùng nằm trong miền khí
hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm. Lượng mưa hằng năm đạt
bình quân 1.900 mm. Mưa như trút tạo nên những dòng
chảy ào ạt, băng qua các triền đá, không sức mạnh nào có
thể cản được. Và như thế, các dòng suối, dòng sông tạo nên
một mạng lưới chằng chịt trên lãnh thổ nước ta.
Con số thống kê cho biết:
- Nước ta có 2.360 con sông với chiều dài từ 10 km trở lên.
- Trong số đó, có 106 dòng sông chính và 2.254 phụ lưu.
- Trung bình cứ 1 km^có 1 km sông suối. Đi trên mặt
đất cứ khoảng 600 đến 1.000 m lại gặp một dòng nước
chảy qua, thậm chí chỉ khoảng 300 - 500 m ở những nơi
có mật độ sông suối dày.
- Nước ta có chiều dài bờ biển là 3.260 km, trung bình
cứ khoảng 20 km lại có một cửa sông.
- Với hình thể kéo dài, bề ngang hẹp, nên nước ta đa số
là sông ngắn, diện tích lưu vực nhỏ. Có đến 91 % sông ngòi
11
chỉ có độ dài từ 10 đến 50 km. Sông có độ dài 5 0 - 100 km
chiếm 6% ; sông dài trên 100 km chỉ chiếm trên 2% .
Các hệ thống sông lớn của nước ta như sông Hồng, sông
Mã, sông Cửu Long đều bắt nguồn từ lãnh thổ nước ngoài.
Với lượng mưa dồi dào, tổng khối lượng nước trên sông
ngòi nước ta là một con số khổng lồ: 839.000.000.000 m^
mỗi năm. Tuy nhiên, lượng nước này không phân bố đều
trong năm và các vùng miền. Mùa mưa thì nước đổ như trút
gây ra lũ cuồn cuộn chảy. Mùa khô thì dòng chảy cạn kiệt
không đủ nước đưa vào ruộng đồng.
Chuyển động nước trên sông ngòi diễn biến thất thường
và phân hóa theo mùa rất rõ từ Bắc vào Nam:
Sông ngòi miền Bắc và Nam Bộ có mưa lũ bắt đầu từ
tháng 6 đến tháng 9 và lũ cao nhất là tháng 8. Mùa cạn bắt
đầu từ tháng 11 đến tháng 4. Cạn nhất vào tháng 11.
Trong khi đó, mùa mưa lũ trên các sông ngòi miền Trung
rơi vào tháng 9 đến tháng 12 và mùa cạn nhất là tháng 3.
Mức nước chênh lệch giữa các mùa cũng rất khác
nhau. Nước sông Hồng mùa lũ thường có lưu lượng lớn
gấp 10 lần mùa cạn. Sông ngòi miền Trung có lưu lượng
nước mùa lũ lớn gấp 16, 1 7 lần mùa cạn. Trong khi đó, lưu
lượng nước sông Cửu Long còn chênh nhau giữa các mùa
tới 20 lần.
Do cấu tạo địa chất và địa hình, hướng chảy chủ yếu
của sông ngòi nước ta là từ tây bắc xuống đông nam và
12
đổ ra biển. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ, như sông
Bằng hợp với sông Kì Cùng chảy ngược sang lãnh thổ Trung
Quốc. Một số sông ở dây Trường Sơn chảy sang phía Lào.
SÔNG NƯỚC VỚI NGƯỜI VIỆT,
NGƯỜI VIỆT VỚI SÔNG NƯỚC
Nước - trong từ điển tất cả các nước trên thế giới đều
có một nghĩa chung, đó là thứ chất lỏng quan trọng và phổ
biến nhất trên Trái Đất. Riêng trong tiếng Việt, nước còn
bao hàm một nghĩa rộng lớn hơn như một quốc gia: Nước
Việt Nam. Điều đó chứng tỏ người Việt coi trọng vai trò của
nước như thế nào.
Theo truyền thuyết, tổ tiên của người Việt là Lạc Long
Quân và Âu Cơ. Lạc Long Quân thuộc nòi Rồng, Âu Cơ là
giống Tiên. Hai vị sinh ra 100 người con trai, 50 người theo
cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên núi.
Những người con theo mẹ lập nên "nước" Văn Lang do
các vua Hùng làm thủ lĩnh. Ban đầu họ sinh sống chủ yếu ở
vùng núi và trung du, sau đó tiến dần xuống khai phá đồng
bằng sông Hồng, tạo nên nền văn minh lúa nước nổi tiếng
ở Đông Nam Á.
Người Việt thuở xa xưa ấy đã là người của sông nước,
giỏi bơi lội. Sách Lĩnh Nam chích quái ghi lại sự tích xăm
mình của người Việt: Dưới nước có các loài thủy quái gây
hại cho dân khi xuống sông bắt cá. Dân bèn tâu lên vua
Hùng, vua cho rằng, các loài thủy quái rất ghét kẻ khác loài,
13
Tục săm mình gắn với đời sống gần sông nước.
nên lệnh cho mọi người dùng màu xăm lên mình những
hình thù giống loài giao long. Tục xăm mình của người Việt
có lẽ xuất hiện vào loại sớm nhất trên thế giới.
Trên các trống đồng ta thấy khắc hình các con thuyền
và nhà có mái hình thuyền, chứng tỏ người Việt cổ đã sớm
biết đóng thuyền làm phương tiện đi lại, đánh cá và cả để
ở nữa.
Trên trống đồng còn có hình ảnh chim bay lượn hay
đậu trên cành. Đó là loài chim có mỏ dài, cổ dài và sải
cánh rộng. Trước đây một số học giả gọi đó là chim Lạc một loài chim di cư bay từ phương bắc đến đất nước ta. Tuy
nhiên, gần đây các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng từ
14
"lạc" là phiên âm sang tiếng Hán của từ "nác" - một từ Việt
cổ chỉ "nước". Như vậy chim Lạc tức là "chim nước" và đấy
chính là "con cò lặn lội bờ ao", "con cò bay lả bay la" vô
cùng quen thuộc trên đồng nước quê hương ta.
Trong số các truyền thuyết thời Hùng Vương có hai câu
chuyện gắn với sông nước.
Vua Hùng có con gái là mị nương Tiên Dung rất thích
đi đây đi đó thăm thú các miền đất nước. Trong một cuộc
du hành của nàng đã diễn ra mối duyên kì ngộ giữa nàng
với chàng trai nghèo Chử Đồng Tử. Hai vỢ chồng họ cũng
là những người đầu tiên dong thuyền ra biển giao thương
buôn bán với nước ngoài.
Truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh kể về cuộc tranh chấp
giữa thần núi và thần sông. Truyền thuyết này chứng tỏ
ngay từ xa xưa người Việt đã phải chống chọi với lũ lụt do
sông ngòi gây ra. Trải qua hàng ngàn năm, cuộc chiến đấu
chinh phục dòng sông còn tiếp tục bằng việc đắp đê sông
Hồng dài hàng ngàn cây số.
v ề mặt tâm linh, người Việt còn tôn thờ đạo Mẩu, trong
đó có Mẩu Thoải (biến âm từ Thủy), tức Thủy Cung Thánh
Mầu - vị nữ thần coi sóc các miền sông nước. Bà được tôn
xưng là một bà Mẹ (mẫu) trong "tam tòa thánh mẫu". Mẹ có
trong nguồn nước chúng ta uống, cây cối tươi tốt, con người
khỏe mạnh đều nhờ nguồn nước mẹ ban.
Lũ lụt là thiên tai gắn liền với sông ngòi gây ra cho con
người. Nhưng những gì sông ngòi ban tặng cho con người
15
còn to lớn hơn, quan trọng hơn. Dòng sông đã miệt mài chở
phù sa đắp bồi nên cả một vùng đồng bằng sông Hồng rộng
lớn và màu mỡ. Từ miền trung du, người Việt đã tiến xuống
đồng bằng để khai hoang làm ruộng lúa. Bằng sức lao động
cần cù và bền bỉ, họ đã tạo dựng nên nền văn minh lúa
nước, cũng được gọi là nền văn minh sông Hồng, niềm tự
hào của người Việt.
Quá trình khai hoang mở cõi sau này còn được cha ông
ta thể hiện thành công ở vùng châu thổ sông Cửu Long và
các đồng bằng ven biển khác.
Thuở xưa khi chưa có xe cộ, đường sá đi lại còn khó
khăn, sông ngòi là con đường giao thông thuận lợi của người
Việt. Trên các sông suối miền núi, người ta dùng thuyền độc
mộc, bè mảng để đi lại, chở hàng; trên các dòng sông lớn
dùng thuyền có một hoặc nhiều mái chèo, thuyền buồm,
xuôi ngược đò dọc đò ngang. Thời nhà Trần, nhà Hồ, nhà
Lê có cả thuyền ngự, thuyền chiến. Triều Tây Sơn, triều
Nguyễn đã có tàu chạy sông, chạy biển...
Theo thời gian, tại các vùng đồng bằng, ven sông, làng
mạc, phố thị mọc lên ngày càng sầm uất. Cây đa bến đò
trở thành hình ảnh quen thuộc của đồng quê Việt Nam.
Các thành phố lớn cũng được xây dựng dọc theo ven sông,
hay nói một cách khác, mỗi con sông lớn đều có thành phố
lớn ở bên: Thăng Long - Hà Nội trên sông Hồng; Vinh trên
16
Sông ngòi là con đường giao thông thuận lợi của người Việt.
sông Lam; Huế trên sông Hương; Đà Nắng trên sông Hàn;
Quảng Trị trên sông Thạch Hãn; Sài Gòn trên sông Bến
Nghé; Long An, Tiền Giang trên sông Tiền; cần Thơ trên
sông Hậu...
Nhiều dòng sông Việt còn được ghi đậm nét trong các
trang sử vàng chống ngoại xâm của dân tộc.
Có thể nói, lịch sử bốn ngàn năm của nước Việt luôn
song hành với các dòng sông.
18
SÔNC HỒNG CHỞ NẶNG PHÙ SA,
CÁI NÔI CỦA NỀN VẢN MINH SÔNG HỒNG
Sông Hống, con sông chính của miền Bắc Việt Nam
Nguồn: Wikipedia, mục Sông Hồng.
SÔNG CÁI - DÒNG SỒNG MẸ CỦA NGƯỜI VIỆT
Cái tên "sông Hồng", "Hồng Hà" hiện nay được lí giải
là dòng nước của sông có màu đỏ do chở nặng phù sa. Sông
Hồng còn có nhiều tên gọi. Một trong các tên gọi dân gian
19
là sông Cái. Cái trong tiếng Việt cổ có nghĩa là Mẹ. Sông
Cái cũng được nhắc tới khi Lí Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư,
Ninh Bình ra Thăng Long.
Xưa kia, người ta ít có điều kiện đi suốt cả một dòng
sông, nên thường lấy tên địa phương dòng sông chảy qua để
gọi tên sông. Phía thượng nguồn, con sông này có tên là sông
Thao, sông Bạch Hạc, sông Phú Lương... Một cái tên thường
được nhắc đến là Nhị Hà: núi Nùng sông Nhị. Thực ra, tên
gọi này vốn là Nhĩ Hà, dựa vào hình dáng sông uốn cong
như vành tai. Đoạn gần Hà Nội, sông còn có những tên như
sông Đại Lan (chảy qua bãi Đại Lan, huyện Thanh Trì), sông
Xích Đằng, Thiên Mạc, Mạn Trù (chảy qua tỉnh Hưng Yên).
Qua đất Hà Nam sông có tên là sông Nam Sang, chảy vào
địa phận Nam Định lại mang tên Hoàng Giang...
Điều thú vị là, sông Hồng lại là tên gọi mới mẻ nhất,
xuất phát từ... tiếng Pháp. Nguyên do, khi lập bản đồ nước
ta, người Pháp thấy dòng sông có màu phíj sa đỏ quạch nên
gọi là Fleuve Rouge. Từ này được sử dụng và dịch sang các
thứ ngôn ngữ khác trên tất cả các bản đồ thế giới. "Dịch
ngược" lại sang tiếng Việt, thành Sông Hồng hay Hồng Hà!
BA SÔNG TỤ LẠI...
Sông Hồng dài tổng cộng 1.149 km, phần chảy trên
lãnh thổ nước ta là 510 km, bắt nguồn từ dãy núi Nguy Sơn
cao 1.776 m, thuộc dây Ai Lao Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung
Quốc. Lúc này sông có tên là Nguyên Giang, chảy qua
20
huyện tự trị Nguyên Giang của người Thái, người Di, người
Cáp Nê.
Xưa kia nơi đây từng là vương quốc Nam Chiếu một
thời hùng mạnh đóng đô tại Côn Minh. Quân Nam Chiếu
đã nhiều lần xâm chiếm An Nam, bấy giờ là đô hộ phủ
thuộc nhà Đường. Phải đến năm 866, quân Nam Chiếu
mới bị Cao Biền đánh bại, buộc phải rút về nước.
Sau khi Nam Chiếu suy tàn, họ Đoàn người dân tộc
Bạch nổi dậy thành lập nước Đại Lí. Vương quốc này đã
phát triển rực rỡ, trải qua 22 đời vua mới bị đế quốc Nguyên
Mông thôn tính.
Nguyên Giang chảy vào nước ta tại Lào Cai, hợp lưu
với một phụ lưu là sông Nậm Thi. Từ đây chảy về Việt Trì,
Phú Thọ được gọi là sông Thao.
Sông Hồng không trở thành vĩ đại nếu không có sự hợp
lực của "ba anh em": sông Thao, sông Lô và sông Đà, trong
đó sông Thao là dòng chính.
1. Sông Thao thao thiết
Sông Thao là tên gọi của đoạn sông Hồng chảy từ biên
giới đến ngã ba Bạch Hạc, Phú Thọ. Sông Thao chạy gần
như song song với dãy núi Con Voi và dãy núi này cũng là
đường chia nước giữa sông Thao với sông Lô phía tả ngạn,
trong khi Hoàng Liên Sơn là đường chia nước giữa sông
Thao và sông Đà. Lưu vực sông Thao rộng tương đương với
lưu vực sông Đà. Mặc dù sông Thao đóng vị thế "anh cả"
21
nhưng lượng nước dòng chảy lại kém hai sông kia.
Sông Thao thường hiền hòa thơ mộng, nhưng vào mùa
lũ nó lồng lên, cuồn cuộn chảy, nước đục ngầu, cuốn phăng
đi tất cả, tạo nên những đợt lũ ống kinh hoàng.
2. Sông Lô nao nức
Lô Giang dòng nước trong xanh có nhà mái xinh
bên đồi núi cao
Lô Giang dòng nước êm ru
Ánh vàng thắm tươi khi trời cười vui...
Lương Ngọc Trác - Lô Giang
Sông Lô, đúng như lời bài hát, khi mới chảy vào nước ta
ở cửa khẩu Thanh Thủy có dòng "trong xanh" và "êm ru",
vì thế mà có tên là Thanh Thủy Giang - sông nước xanh.
Nhưng khi hợp dòng với các phụ lưu, vượt qua thác ghềnh
mùa lũ thì nước sông trở nên đục ngầu và gầm réo như sấm.
Sông Lô có hai phụ lưu chính là sông Chảy và sông
Gâm, trong đó sông Gâm lại có các phụ lưu là sông Nho
Quế và sông Năng.
Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn
Lĩnh (cao 2.419 m) và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liêu Ti
(2.402 m). Theo Lê Quý Đôn, sông Chảy còn có tên là Lôi
Hà - nghĩa là Sông sấm! Phần thượng nguồn sông Chảy gần
như song song với sông Thao, bị ngăn cách bởi dãy núi Con
Voi nằm giữa. Từ Yên Bình về xuôi tàu bè có thể đi lại được,
nhưng vẫn còn phải qua thác ông, thác Bà.
22
Thác Bà đã được ngăn lại thành hồ thủy điện đầu tiên
của miền Bắc nước ta. Hồ Thác Bà trải dài 80 km. Từ Thác
Bà, sông chảy xuôi về Đoan Hùng để hợp lưu với sông Lô.
Sông Gâm còn gọi là sông Gầm, chảy theo hướng bắc nam uốn khúc theo thung lũng của khối núi mang tên Cánh
cung Sông Câm .
Xuất phát từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) sông chảy
qua tỉnh Quảng Tây rồi vào Việt Nam ở tỉnh Cao Bằng.
Xuôi theo dòng nước tới Na Động thì sông Câm nhận nước
cija sông Nho Quế từ Lũng Cú, điểm cực Bắc nước ta, đổ về
nới rộng lòng sông. Sông Gâm quanh co chảy qua địa giới
tỉnh Hà Giang, rồi đổ nước vào sông Lô ở Bình Ca phía bắc
thị xã Tuyên Quang.
Sông Nho Q u ếìà phụ lưu của sông Gâm, bắt nguồn từ
vùng núi Nghiễm Sơn (Trung Quốc), chảy qua điểm cực Bắc
cija lãnh thổ Việt Nam, cách cột cờ Lũng Cú khoảng 2 km
đường chim bay. Hành trình len lỏi của dòng Nho Quế
giữa cao nguyên đá tai mèo, tạo cho ngọn đèo Mã Pí Lèng
(Mèo Vạc, Hà Giang) một vẻ đẹp đầy bí ẩn và hoang dại.
Tại Tu Sản, sông cắt xẻ mạch núi tạo nên vực sâu hun hút
700 m, được coi là vực sâu nhất Đông Dương.
Sông Năng cũng là một phụ lưu của sông Gâm, bắt
nguồn từ các con suối nhỏ ở hai huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm
tỉnh Cao Bằng và huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn. Pác Nặm
có nghĩa là đầu nguồn nước.
23
Hai bên bờ sông Năng, chủ yếu là địa hình cacxtơ với
những núi đá vôi dựng đứng. Có chỗ sông chảy xuyên qua
núi đá vôi Lũng Nham, tạo thành một hang động rất lớn và
tuyệt đẹp, đó là động Puông.
Sông Năng sau khi luồn dưới núi đá vôi chảy đến bản
Húa Tạng thì đến thác Đầu Đẳng. Thác cao trên 60 m,
chảy dài hơn 1.000 m, tạo thành ba bậc, bậc trên cách bậc
dưới từ 3 đến 4 m. Sông Năng đổ nước vào hồ Ba Bể đẹp
nổi tiếng. Từ hồ Ba Bể, sông Năng chảy tới Na Hang thuộc
tỉnh Tuyên Quang để nhập vào dòng sông Gâm.
Sông Lô còn có một phụ lưu bên tả ngạn nữa: sông Phó
Đáy. Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo, huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chủ yếu chảy qua tỉnh Tuyên Quang
và nhập vào sông Lô phía trên cầu Việt Trì độ 200 m.
Sông Phó Đáy được nhắc đến trong bài thơ Đ i thuyền
trên sông Đáy và bài Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh:
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sồng xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
Từ ngã ba sông Phó Đáy và sông Lô đi tiếp về phía hạ
lưu của sông Lô chưa đến 2 km là tới một ngã ba sông, nơi
sông Lô hợp lưu với sông Hồng.
Như vậy, sông Chảy "giao duyên" với sông Lô ở Đoan
Hùng, Phú Thọ. Sông Câm hợp thủy với sông Lô ở Khe Lau,
24
Tuyên Quang. Sông Lô chảy đến ngã ba Bạch Hạc hợp lưu
với sông Hồng.
Sông Lô không lớn bằng sông Thao, không dữ dằn như
sông Đà, nhưng hội tụ đủ đầy vẻ đẹp giang hồ, bi tráng,
kì v ĩ của sông nước miền sơn cước. Trên dòng sông Lô còn
vang vọng chiến thắng Bình Ca hào hùng trong chiến dịch
Việt Bắc năm 1947.
3. Sông Đà dữ dội và thơ mộng
Trong tập kí Sông Đà, Nguyễn Tuân đã mô tả sông Đà
đầy vẻ dữ dằn, hung bạo. Đó là những đoạn sông đôi bờ đá
dựng đứng thành vách chẹn họng dòng sông. Nhưng dữ dội
nhất là ở những thác đá. Chưa thấy sông, người lái đò đã bị
"khủng bố" bởi tiếng thác nước đầy vẻ khiêu khích. Thác
đá xếp thành từng tuyến như một thạch trận chăm chăm
nuốt chửng con thuyền độc mộc.
Nhưng Nguyễn Tuân cũng lại phát hiện ra vẻ hiền hòa
nơi con sông ấy: "B ờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ
sông hồn nhiên như một nỗi niềm c ổ tích". "Con sông Đà
tuôn dài như một áng tóc trữ tình, dầu tóc, chân tóc ẩn hiện
trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai
và cuồn cuộn khói núi M èo đốt nương xuân...".
Mường Tè là nơi đầu tiên sông Đà đổ nước vào nước
ta tại xã Ka Lăng. Tại đây nó có tên là Nậm Tè - nậm tức
là nước hay sông; hai chữ "nậm tè" theo tiếng Thái - Tày
25
có nghĩa là "sông thật", "nước thật", cũng là "sông mẹ".
Quãng sông này có vực sâu hun hút, vào mùa cạn lô nhô
những tảng đá, hươu nai có thể nhảy qua để vượt sông.
Nhưng mùa mưa thì nước đổ ào ào, kéo trôi vô vàn cây cối
theo dòng.
Năm 2011, Nhà máy thủy điện Lai Châu được khởi công
xây dựng tại xã Nậm Hàng, Mường Tè. Công trình này được
xây dựng ở bậc thang trên cùng của dòng chính sông Đà,
bậc trên của thủy điện Sơn La. Nhà máy thủy điện Lai Châu
gồm ba tổ máy với tổng công suất lắp đặt 1.200 MW, mỗi
năm nhà máy sẽ hòa vào mạng lưới điện quốc gia khoảng
4.670,8 triệu kwh, dự kiến hoàn thành vào năm 2017.
Từ Mường Tè xuôi về Lai Châu, dòng sông chảy qua
những vùng thắng cảnh và văn hóa đặc sắc:
Đường lên Mường Lễ bao xa
Trăm bảy mươi thác trăm ba mươi ghềnh.
Tại nơi giao nhau của dòng Nậm Na và sông Đà ở xã
Lê Lợi, huyện Sìn Hồ hiện vẫn còn Di tích lịch sử Bia Lê Lợi
và Đền thờ vua Lê.
Từ Lai Châu, con sông Đà xuôi về qua Điện Biên. Tới
đây, nước dòng sông vẫn xiết lắm. Dòng sông cuồn cuộn
chảy nhưng trong vắt như mặt gương soi. ở dọc theo đoạn
sông này, có người Phù Lá và người Lự, những sắc dân ít
người vẫn giữ phong cách sống riêng.
26
Khi xuôi về Sơn La, con sông Đà mới thực sự khoe hết
vẻ hùng tráng của nó. Dòng sông ăm ắp nước tạo ra cho nơi
đây một tiểu vùng khí hậu tốt lành, cây cối xanh tốt, ruộng
nương phì nhiêu. Nhiều bản làng sầm uất mọc lên ở đôi
bờ. Nhiều sinh hoạt tín ngưỡng liên quan đến dòng sông
tới nay vẫn được bà con gìn giữ. Vào trưa ngày áp Tết, nam
nữ người Thái ra sông Đà gội đầu để gột bỏ mọi xui xẻo của
năm cũ, đón nhận mọi sự tốt lành mà dòng sông mang tới.
Người Dao, người Tày ở Phú Thọ, vào dịp cuối năm mỗi
nhà cử ra một đại diện, ra sông Đà múc một bát nước, nhặt
một viên đá đem về đặt lên bàn thờ cúng thần sông.
Nhà máy thủy điện Sơn La được xây dựng tại tỉnh Sơn
La, huy động lượng nước của các hồ chứa thuộc địa bàn
ba tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn La, nơi đã diễn ra một
cuộc tái định cư khổng lồ: hơn 20.000 hộ với trên 95.000
nhân khẩu đã dời làng cũ để phục vụ xây dựng công trình.
Nhà máy thủy điện Sơn La nằm tại xã ít Ong, huyện
Mường La, tỉnh Sơn La, được khỏi công ngày 2-12-2005. Sau
bảy năm xây dụíig, Thủy điện Sơn La đã được khánh thành
ngày 23-12-2012, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt
Nam và cẳ khu vực Đông Nam Á.
Nằm ở bậc thang thứ hai trong hệ thếng bậc thang thủy
điện trên thượng lưư sông Đà, Thây điện Sơn La là công trinh
phát điện có công suất lắp đặt là 2.400 MVV, gồm 6 tổ máy
kwh
(trong đó tăng thêm cho thủy điện Hòa Bình 1,267 tỉ kwh).
(6 X
400 MW). Sân tượng điện trung bình năm: 10,246 t ỉ
27
Thung Nai chính là nơi con sông Đà xinh đẹp và hùng
vĩ, hiểm trở và khó chinh phục, được chọn làm địa điểm
xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình.
Đập nước Hòa Bình - "công trình thế kỉ 20" - đã chặn
đứng sự hung dữ của dòng sông, bắt sức nước phát điện
phục vụ cho phát triển kinh tế nước ta.
Nhà máy thủy điện Hoà Bình được xây dựng trên dòng
sông Đà thuộc miền Bắc Việt Nam. Trước khi nhà máy thủy
diện Sơn La khánh thành, dây là nhà máy thủy diện lớn nhất
Việt Nam và Đông Nam Á.
Công trình khỗi công xây dựng ngày 6-11-1979, khánh
thành ngày 20-12-1994. Công suất thiết kế là 1.920 MVV, gồm
8 tể máy, mỗi tể máy có công suất 245.000 KVV. sản lượng điện
hằng năm là 8,16 tỉ KVVh.
Đập thủy điện
Hòa Bình.
Từ Hòa Bình, sông Đà uốn theo phần cuối của dãy
Hoàng Liên Sơn chảy về miền trung du Phú Thọ.
Nguyễn Quang Bích (1832-1890) - lãnh tụ phong trào
Cần vương đã cùng thủ lĩnh người các dân tộc Tây Bắc lập
căn cứ chống Pháp tại hạ lưu sông Đà. ông cũng là một nhà
thơ, tác giả của câu thơ nổi tiếng: "Chúng thủy giai đông
tẩu/Đà giang độc bắc lưư'. (Mọi dòng sông đều chảy về
đông, chỉ có sông Đà theo hướng bắc.)
Sông Đà hợp lưu với sông Hồng ở làng Hồng Đà, Phú
Thọ. Theo truyền thuyết đây chính là nơi giao tranh giữa
Sơn Tinh và Thủy Tinh. Tại đây Thủy Tinh đã chặn đánh
Sơn Tinh hòng cướp lại Mị Nương. Nơi hai bên ra lời thách
đấu để quyết phân thắng bại có địa danh là Lời, hay còn
gọi là thác Lời.
Ngã ba Hạc - nơi thủy tụ mở cõi Văn Lang
Xinh thay ngã ba Hạc,
Lạ thay ngã ba Hạc!
Dưới họp một dòng,
Trên chia ba ngạc.
Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào;
Lênh lang dễ biết nông sâu, nước đen pha nước bạc.
Đó là những câu mở đầu bài Ngã ba H ạc phú nổi tiếng
viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Bá Lân (1701 -1 785) - danh
sĩ và đại quan triều Lê Hiển Tông.
29
Ngã ba Hạc, tên đầy đủ là Ngã ba Bạch Hạc, còn có
tên Tam Giang, là nơi hội tụ của ba con sông, để từ đây
chính thức là sông Cái, sông Hồng của nước Việt. Trong
đoạn phú trên, sông Thao có màu nước hồng (đào), sông Lô
có màu biếc, sông Đà có màu đen pha nước bạc.
Theo truyền thuyết, tại miền đất này thuở xưa có nhiều
cây chiên đàn, trên đó rất nhiều chim hạc trắng về đậu. Vì
thế mới có tên là Bạch Hạc.
Ngã ba Bạch Hạc
Đây là miền đất thiêng được các vua Hùng chọn làm
kinh đô của nhà nước Văn Lang. Những địa danh hiện còn
là chứng tích cho thời xa xưa ấy: Thậm Thình - nơi giã gạo,
Minh Nông - nơi vua Hùng dạy dân cấy lúa, Hương Trầm nơi trồng lúa thơm, Lang Đài - đài luyện võ, Bến Gót ...
NHIÊN
ĐÂT
Nưỡc
NGUYỄN NHƯ MAI - NGUYỄN HUY THANG - NGUYỄN QUỐC TÍN
DẠT
SÔNC NƯÒC
TA
THI EN
NHIEN
ĐA
VA
' fí
NGUYỄN NHƯ MAI - NGUYỄN HUY THANG - NGUYỄN QUỐC TÍN
DẬT DÀỌ
SÔNC NƯÒC
NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỐNG
Thiên nhiên đất nước ta - Dạt dào sông nước
® Nguyễn Như Mai, Nguyên Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín
Xuất bản theo Hợp đóng sử dụng tác phẩm
giữa nhóm Tác giả và Nhà xuất bản Kim Đồng, 2015
Bản quyền hình ảnh bìa, minh họa thuộc về Nhà xuất bản Kim Đổng, 2016
Vè bìa và minh họa: Nguyễn Doãn Sơn
Trình bày bìa: Tô Hổng Thủy
Biin mục trên xuít b in phím cùa Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyịn Như Mai
Dạt dào sông nước/Nguyễn Như Mai, Nguyên HuyThâng, Nguyẻn QuỗcTln. - H .: Kim Đóng, 2016. - 228tr.:
tranh v ẽ ; 21 cm. - (Thiên nhiên đát nước ta)
ISBN 9786042057547
1. Tài nguyên nước 2. Sông 3. Việt Nam
333.916209597 - dc23
KDF0405p-CIP
LỜ I NÓI ĐẦU
N on - Sổng, Đ ất - N ước, Gừmg - Sơn' tổ hợp hai từ ấy, hai
yếu tố ấy tạo nên một từ thiêng liêng: T ổ quốc.
T ổ quốc không chỉ là khái niệm chung chung, mơ hồ, mà
chính là sông là núi, là mảnh đất tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên,
đã dùng sức lao động đ ể tô điểm và dùng máu xương đ ể bảo vệ.
Càng hiểu và bịết về thiên nhiên đất nước, ta càng thêm yêu,
thêm tự hào về T ổ quốc. Đ ể có sự hiếu biết về non nước mình,
chúng ta phải học trong nhà trường, đọc trong sách báo và trải
nghiệm trong thực tế. Đồng thời, lại phải có ý thức thường xuyên
bồi bổ các kiến thức về đm lí, về thiên nhiên rất cần thiết cho mỗi
con người trong cuộc sống và cả trong công việc sau này. Bạn cần
biết về cương vực, lãnh thổ đất nước khi muốn di vào nghiệp văn
chương, sử học, ngoại giao. Bạn cần thông thuộc đừi hình, đừi mạo
khi làm quy hoạch hay kiến trúc. Bạn càng cần nắm rỗ về sông,
núi, biển, rừng của T ổ quốc nếu bạn làm nông nghiệp, khai thác
tài nguyên hay thương m ại... Khỏi phải nói, trong cuộc sống hằng
ngày, những k iấ i thức ấy giúp ích thế nào khi bạn đi du lịch khám
phá; sự hiểu biết sẽ làm cho bạn có ấn tượng sâu sắc hơn và thu
lượm được nhiều điều bổ ích hơn sau mỗi chuyến đi...
Bộ sách về thiên nhiên đất nước Việt N am mà chúng tôi g iă
thiệu với bạn đọc, đặc biệt với các bạn trẻ, chính là nhằm đem đến
những kiến thức bổ trợ giúp tăng cường vốn hiểu biết về địa lí của
bạn, v à ' điều này mới là mục đích chính của bộ s á c h ' nhằm khơi
gợi tình yêu của mối người chúng ta đối với non sông đất nước
mình, bắt đầu từ ý thức tìm hiểu và nhận biết rõ về sông, núi quê
hương, biển, rừng T ổ quốc. Trước mắt, bộ sách sẽ bao gồm bốn
cuốn về núi non, sông ngòi, rừng và biển.
M ặc dù nhóm biên soạn đã cố gắng sưu tầm tư liệu, cập nhật
những thông tin mới và viết sao cho thấu đáo, d ễ hiểu, d ễ tiếp
nhận, song chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong
bạn đọc góp ý bổ khuyết cho bộ sách. Xin chân thành cám ơn!
NHÓM BIÊN SOẠN
4
V IỆT NAM: ĐẤT Nước
CỦA NHỮNG DÒNG SÔNG
TÁN MẠN VỂ GIỌT N ư ổ c
Bạn hãy nhìn một giọt nước long lanh treo trên ngọn
cỏ, treo trên mái tranh. Giọt nước nhỏ bé ấy mới đẹp làm
sao, nó phản chiếu cả đất trời, lung linh bảy sắc cầu vồng.
Giọt nước ấy chứa biết bao điều kì lạ.
Chúng ta quen gọi hành tinh của mình là Trái Đất.
Nhưng nếu xét tổng thể thì phải gọi là Trái Nước mới đúng.
Bạn nhìn trên quả địa cầu mà xem: Hơn ba phần tư bề mặt
Trái Đất được bao phủ bởi đại dương. Địa cầu như một giọt
nước khổng lồ bay vòng quanh Mặt Trời, xoay tròn trong
không gian vũ trụ.
Cái giọt nước có công thức hóa học "Hát Hai Ô" (H p )
này thật có nhiều điều lạ. Trông thì trong suốt, lại chẳng có
mùi có vị gì. Nhưng chĩ có nó là loại vật chất có thể tồn tại
ở cả ba trạng thái: lỏng, rắn và khí.
Nước đóng băng ở 0°c, nhưng băng lại nhẹ hơn nước
bình thường. Cứ tưởng tượng, nếu băng nặng hơn nước thì
tại các đại dương, nhất là ở hai cực, khi nhiệt độ lạnh dưới
không độ, băng sẽ chìm xuống đáy, và cứ tích tụ dày lên
mãi thì bên dưới biển, dưới hồ chẳng còn cá mú hay sinh
vật nào sống được. Tất cả sẽ là những khối hóa thạch băng!
Nước luôn chảy xuống chỗ trũng? Không hẳn. Trong
các mao mạch nó lại bị hút ngược lên trên. Chính nhờ đó
mà thân cây hút được nước và chất khoáng từ rễ lên nuôi
sống cây.
Cho đến nay, còn nhiều giả thuyết về nguồn gốc sự
sống nảy sinh từ đâu, nhưng các nghiên cứu về cổ sinh học
cho thấy, sự sống trên Trái Đất đã được hình thành và phát
triển từ trong lòng biển cả, rồi sau đó mới tiến lên đất liền.
Giáo sư Neil Shubin người M ĩ viết một cuốn sách phổ
biến khoa học rất hay, đã được dịch ra tiếng Việt với tiêu
đề Tất cả chúng ta đều là cá. Câu chuyện bắt đầu bằng
việc phát hiện ra hóa thạch loài cá Tiktaalik sống cách đây
Cá Tiktaalik
375 triệu năm. Từ loài cá này, các nhà cổ sinh học đã tìm
ra sự khởi đầu của quá trình tiến hóa của bàn tay. Trải qua
hàng trăm triệu năm, từ chiếc vây cá Tiktaalikâã phát triển
thành bàn chân các loài bò sát như cá sấu, ếch nhái khi
bò lên cạn, thành bộ xương cánh chim khi bay lên không
và cuối cùng là xương bàn tay có năm ngón của loài người.
Cũng như vậy, cái đầu, cái răng, cái tai, đôi mắt của chúng
ta cũng đều mang di sản của tổ tiên nguyên thủy sống dưới
nước. Cây phả hệ của loài người vốn từ những loài như sứa,
rồi đến các loài có cấu tạo cơ thể, tiếp đến có hộp sọ, có
bàn tay và bàn chân, có ba xương ở tai giữa, cuối cùng đi
bằng hai chân và có bộ não lớn. Như vậy, nếu nói rằng tất
cả chúng ta đều "xuất thân" từ loài cá sống dưới nước quả
cũng không ngoa.
Trong cơ thể con người, nước chiếm tỉ lệ khoảng 60
- 70%, tỉ lệ nước trong bào thai và trẻ sơ sinh còn tới trên
90%!
Để sống, con người cần ăn và cần uống. Xem ra chịu
đói còn cầm cự được lâu hơn là nhịn khát nhiều.
Tất nhiên, con người cũng phải ăn mới sống được.
Thức ăn là do cây cỏ và động vật cung cấp. Nguồn thức ăn
ấy cũng phải có nước mới được sản sinh ra. Nước ta vốn
là một nước nông nghiệp, lấy trồng lúa nước làm chính.
Trong quá trình sản xuất, cha ông ta đã đúc rút kinh nghiệm
thành bốn chữ "Nước, Phân, cầ n , Giống", trong đó Nước
là yếu tố đứng đầu.
TẢN MẠN VỀ CON SỒNG
Trong tiếng Việt, mạo từ "con" thường để chỉ các loài
vật như con chim, con sâu, con gà, tức là những vật sống,
vật chuyển động.
"Cái" để chỉ những vật vô sinh, bất động như cái bàn,
cái bát, cái nhà.
Nhưng đôi khi từ "con" cũng được dùng với những thứ
không phải là sinh vật, nhưng luôn có sự chuyển động, như
con mắt, con thoi, con thuyền... và con sông.
Dòng nước chảy trong con sông giống như mạch máu
trong cơ thể con người, luôn chuyển động, luôn thay đổi.
Không có nước không thể có sông ngòi.
Nơi quy tụ của giọt nước là biển cả mênh mông. Ánh
nắng mặt trời chói chang tỏa sức nóng xuống làm mặt nước
bốc hơi. Hơi nước bốc lên trời thành những đám mây bay.
Mây gặp lạnh tụ lại thành những giọt nước, đến một lúc
nào đó thành mưa rơi xuống. Mưa tí tách, mưa ào ào đổ
nước xuống mặt đất, xuống rừng núi, đồng ruộng. Một phần
nước ngấm xuống dưới đất, phần lớn trút vào suối, vào sông
thành dòng chảy ào ạt trôi trở lại biển cả. Cuộc phiêu lưu
của giọt nước cuối cùng lại trở về quê hương.
Trong vòng tuần hoàn ấy, sông suối đóng vai trò trung
chuyển. Nhờ có sông suối mà cây cối, lúa ngô có nước
tưới nhuần, con người và muôn loài có nước để uống, để
sinh sống.
8
Ta hãy mường tượng mưa rơi xuống đỉnh núi, những
giọt nước mưa không phải lúc nào cũng được đàn đúm bên
nhau, mà sẽ phải chia tay nhau, giọt chảy về sườn bên này,
giọt chảy xuông sườn bên kia. Nôi liền các đường đỉnh núi
lại với nhau, ta có đường phân thủy hay đường chia nước.
Nước từ đường chia nước chảy róc rách len lỏi qua
những khe rãnh, đào thành các con ngòi, con suô1 nhỏ,
dồn nước xuống bồn thu nước. Nhiều con suối hợp nhau lại
thành sông nhỏ, nhiều sông nhỏ gặp nhau tạo thành sông
lớn. Phần lớn các con sông bắt nguồn từ núi cao. Độ dốc
càng lớn thì nước chảy càng mạnh. Phần phía trên của
con sông gọi là thượng lưu hay thượng nguồn. Do độ dốc
cao nên có thể ví lúc này sông đang ở giai đoạn tuổi trẻ,
như chàng trai sung sức phá lối mở đường tả xung hữu đột
qua các triền đá hai bên. Dòng sông vượt qua những thác,
ghềnh, tung bọt trắng xóa, réo vang như tiếng sấm. Lòng
sông có mặt cắt hình chữ V.
Thường có vài ba dòng sông nhỏ được gọi là phụ lưu
gặp gỡ, hội tụ lại thành dòng sông lớn chảy xuống miền
đồi thấp, chảy qua các thung lũng kéo dài. Địa hình bằng
phẳng hơn nên dòng sông như bước vào tuổi trung niên,
rộng hơn, đĩnh đạc hơn, dòng nước vẫn chảy mạnh mẽ
trong "huyết quản", nhưng không hung hăng phá đá nữa
mà bắt đầu lắng đọng cát sỏi và phù sa, tạo nên những bãi
bồi và bậc thềm. Lòng sông bây giờ có hình chữ u.
Dòng sông phía hạ lưu bước vào tuổi già từng trải, tính
tình hiền hòa, thong dong chảy (tất nhiên cũng có lúc nổi
giận đùng đùng khi có mưa to bão lớn). Dòng sông chở phù
sa từ khắp các nẻo đầu nguồn đem về bồi tụ thành đồng
bằng màu mỡ. Vì không còn độ dốc đáng kể, nên sông
chảy quanh co uốn khúc bên lở bên bồi. Một khi dòng bị
uốn cong, sông lại tìm đường đi thẳng, khúc uốn bị tách ra
thành ao hồ hình móng ngựa. Để thoát nước, dòng chính
lại chia sẻ thành các chi lưu, tìm đường ra biển bằng một
hoặc vài ba cửa khác nhau.
Đồng bằng do sông tạo ra thường có dạng xòe nan quạt
hay dạng tam giác. Người ta gọi đó là châu thổ.
"Cuộc đời" của con sông gắn bó với đời sống của xã
hội loài người. Từ những đồng bằng phì nhiêu do phù sa
bồi đắp, những nền văn minh nổi tiếng của loài người đã ra
đời: Văn minh sông Nile ở Bắc Phi; Văn minh Lưỡng Hà ở
Cận Đông; Văn minh Sông Ân ở Ân Độ; Văn minh Hoàng
Hà ở Trung Quốc...
Trên đất nước ta, sông Hồng hình thành nên đồng bằng
Bắc Bộ, tạo nên nền Văn minh Sông Hồng có đặc thù của
một nền văn minh lúa nước.
Sông ngòi cũng là mạng lưới giao thông sẵn có cho con
người khi đường bộ chưa phát triển. Chính vì vậy, hầu hết
các làng mạc, đô thị thường được hình thành trên các triền
sông. Nơi không có sông, người ta phải đào thêm các kênh
đào để đưa nước về.
10
Dòng sông cuồn cuộn chảy cũng là nguồn năng lượng
dồi dào để xây dựng những nhà máy thủy điện cung cấp
điện năng cho nhu cầu dân sinh.
Con sông cũng không tồn tại mãi mãi, có những con
sông "bị bệnh" do nước sông ô nhiễm nặng nề, có những
con sông bị vùi lấp trở thành sông chết.
VIỆT NAM - Xứ SỞ CỦA NHỮNG DÒNG SÔNG
Đất nước ta có núi non trập trùng nằm trong miền khí
hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm. Lượng mưa hằng năm đạt
bình quân 1.900 mm. Mưa như trút tạo nên những dòng
chảy ào ạt, băng qua các triền đá, không sức mạnh nào có
thể cản được. Và như thế, các dòng suối, dòng sông tạo nên
một mạng lưới chằng chịt trên lãnh thổ nước ta.
Con số thống kê cho biết:
- Nước ta có 2.360 con sông với chiều dài từ 10 km trở lên.
- Trong số đó, có 106 dòng sông chính và 2.254 phụ lưu.
- Trung bình cứ 1 km^có 1 km sông suối. Đi trên mặt
đất cứ khoảng 600 đến 1.000 m lại gặp một dòng nước
chảy qua, thậm chí chỉ khoảng 300 - 500 m ở những nơi
có mật độ sông suối dày.
- Nước ta có chiều dài bờ biển là 3.260 km, trung bình
cứ khoảng 20 km lại có một cửa sông.
- Với hình thể kéo dài, bề ngang hẹp, nên nước ta đa số
là sông ngắn, diện tích lưu vực nhỏ. Có đến 91 % sông ngòi
11
chỉ có độ dài từ 10 đến 50 km. Sông có độ dài 5 0 - 100 km
chiếm 6% ; sông dài trên 100 km chỉ chiếm trên 2% .
Các hệ thống sông lớn của nước ta như sông Hồng, sông
Mã, sông Cửu Long đều bắt nguồn từ lãnh thổ nước ngoài.
Với lượng mưa dồi dào, tổng khối lượng nước trên sông
ngòi nước ta là một con số khổng lồ: 839.000.000.000 m^
mỗi năm. Tuy nhiên, lượng nước này không phân bố đều
trong năm và các vùng miền. Mùa mưa thì nước đổ như trút
gây ra lũ cuồn cuộn chảy. Mùa khô thì dòng chảy cạn kiệt
không đủ nước đưa vào ruộng đồng.
Chuyển động nước trên sông ngòi diễn biến thất thường
và phân hóa theo mùa rất rõ từ Bắc vào Nam:
Sông ngòi miền Bắc và Nam Bộ có mưa lũ bắt đầu từ
tháng 6 đến tháng 9 và lũ cao nhất là tháng 8. Mùa cạn bắt
đầu từ tháng 11 đến tháng 4. Cạn nhất vào tháng 11.
Trong khi đó, mùa mưa lũ trên các sông ngòi miền Trung
rơi vào tháng 9 đến tháng 12 và mùa cạn nhất là tháng 3.
Mức nước chênh lệch giữa các mùa cũng rất khác
nhau. Nước sông Hồng mùa lũ thường có lưu lượng lớn
gấp 10 lần mùa cạn. Sông ngòi miền Trung có lưu lượng
nước mùa lũ lớn gấp 16, 1 7 lần mùa cạn. Trong khi đó, lưu
lượng nước sông Cửu Long còn chênh nhau giữa các mùa
tới 20 lần.
Do cấu tạo địa chất và địa hình, hướng chảy chủ yếu
của sông ngòi nước ta là từ tây bắc xuống đông nam và
12
đổ ra biển. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ, như sông
Bằng hợp với sông Kì Cùng chảy ngược sang lãnh thổ Trung
Quốc. Một số sông ở dây Trường Sơn chảy sang phía Lào.
SÔNG NƯỚC VỚI NGƯỜI VIỆT,
NGƯỜI VIỆT VỚI SÔNG NƯỚC
Nước - trong từ điển tất cả các nước trên thế giới đều
có một nghĩa chung, đó là thứ chất lỏng quan trọng và phổ
biến nhất trên Trái Đất. Riêng trong tiếng Việt, nước còn
bao hàm một nghĩa rộng lớn hơn như một quốc gia: Nước
Việt Nam. Điều đó chứng tỏ người Việt coi trọng vai trò của
nước như thế nào.
Theo truyền thuyết, tổ tiên của người Việt là Lạc Long
Quân và Âu Cơ. Lạc Long Quân thuộc nòi Rồng, Âu Cơ là
giống Tiên. Hai vị sinh ra 100 người con trai, 50 người theo
cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên núi.
Những người con theo mẹ lập nên "nước" Văn Lang do
các vua Hùng làm thủ lĩnh. Ban đầu họ sinh sống chủ yếu ở
vùng núi và trung du, sau đó tiến dần xuống khai phá đồng
bằng sông Hồng, tạo nên nền văn minh lúa nước nổi tiếng
ở Đông Nam Á.
Người Việt thuở xa xưa ấy đã là người của sông nước,
giỏi bơi lội. Sách Lĩnh Nam chích quái ghi lại sự tích xăm
mình của người Việt: Dưới nước có các loài thủy quái gây
hại cho dân khi xuống sông bắt cá. Dân bèn tâu lên vua
Hùng, vua cho rằng, các loài thủy quái rất ghét kẻ khác loài,
13
Tục săm mình gắn với đời sống gần sông nước.
nên lệnh cho mọi người dùng màu xăm lên mình những
hình thù giống loài giao long. Tục xăm mình của người Việt
có lẽ xuất hiện vào loại sớm nhất trên thế giới.
Trên các trống đồng ta thấy khắc hình các con thuyền
và nhà có mái hình thuyền, chứng tỏ người Việt cổ đã sớm
biết đóng thuyền làm phương tiện đi lại, đánh cá và cả để
ở nữa.
Trên trống đồng còn có hình ảnh chim bay lượn hay
đậu trên cành. Đó là loài chim có mỏ dài, cổ dài và sải
cánh rộng. Trước đây một số học giả gọi đó là chim Lạc một loài chim di cư bay từ phương bắc đến đất nước ta. Tuy
nhiên, gần đây các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng từ
14
"lạc" là phiên âm sang tiếng Hán của từ "nác" - một từ Việt
cổ chỉ "nước". Như vậy chim Lạc tức là "chim nước" và đấy
chính là "con cò lặn lội bờ ao", "con cò bay lả bay la" vô
cùng quen thuộc trên đồng nước quê hương ta.
Trong số các truyền thuyết thời Hùng Vương có hai câu
chuyện gắn với sông nước.
Vua Hùng có con gái là mị nương Tiên Dung rất thích
đi đây đi đó thăm thú các miền đất nước. Trong một cuộc
du hành của nàng đã diễn ra mối duyên kì ngộ giữa nàng
với chàng trai nghèo Chử Đồng Tử. Hai vỢ chồng họ cũng
là những người đầu tiên dong thuyền ra biển giao thương
buôn bán với nước ngoài.
Truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh kể về cuộc tranh chấp
giữa thần núi và thần sông. Truyền thuyết này chứng tỏ
ngay từ xa xưa người Việt đã phải chống chọi với lũ lụt do
sông ngòi gây ra. Trải qua hàng ngàn năm, cuộc chiến đấu
chinh phục dòng sông còn tiếp tục bằng việc đắp đê sông
Hồng dài hàng ngàn cây số.
v ề mặt tâm linh, người Việt còn tôn thờ đạo Mẩu, trong
đó có Mẩu Thoải (biến âm từ Thủy), tức Thủy Cung Thánh
Mầu - vị nữ thần coi sóc các miền sông nước. Bà được tôn
xưng là một bà Mẹ (mẫu) trong "tam tòa thánh mẫu". Mẹ có
trong nguồn nước chúng ta uống, cây cối tươi tốt, con người
khỏe mạnh đều nhờ nguồn nước mẹ ban.
Lũ lụt là thiên tai gắn liền với sông ngòi gây ra cho con
người. Nhưng những gì sông ngòi ban tặng cho con người
15
còn to lớn hơn, quan trọng hơn. Dòng sông đã miệt mài chở
phù sa đắp bồi nên cả một vùng đồng bằng sông Hồng rộng
lớn và màu mỡ. Từ miền trung du, người Việt đã tiến xuống
đồng bằng để khai hoang làm ruộng lúa. Bằng sức lao động
cần cù và bền bỉ, họ đã tạo dựng nên nền văn minh lúa
nước, cũng được gọi là nền văn minh sông Hồng, niềm tự
hào của người Việt.
Quá trình khai hoang mở cõi sau này còn được cha ông
ta thể hiện thành công ở vùng châu thổ sông Cửu Long và
các đồng bằng ven biển khác.
Thuở xưa khi chưa có xe cộ, đường sá đi lại còn khó
khăn, sông ngòi là con đường giao thông thuận lợi của người
Việt. Trên các sông suối miền núi, người ta dùng thuyền độc
mộc, bè mảng để đi lại, chở hàng; trên các dòng sông lớn
dùng thuyền có một hoặc nhiều mái chèo, thuyền buồm,
xuôi ngược đò dọc đò ngang. Thời nhà Trần, nhà Hồ, nhà
Lê có cả thuyền ngự, thuyền chiến. Triều Tây Sơn, triều
Nguyễn đã có tàu chạy sông, chạy biển...
Theo thời gian, tại các vùng đồng bằng, ven sông, làng
mạc, phố thị mọc lên ngày càng sầm uất. Cây đa bến đò
trở thành hình ảnh quen thuộc của đồng quê Việt Nam.
Các thành phố lớn cũng được xây dựng dọc theo ven sông,
hay nói một cách khác, mỗi con sông lớn đều có thành phố
lớn ở bên: Thăng Long - Hà Nội trên sông Hồng; Vinh trên
16
Sông ngòi là con đường giao thông thuận lợi của người Việt.
sông Lam; Huế trên sông Hương; Đà Nắng trên sông Hàn;
Quảng Trị trên sông Thạch Hãn; Sài Gòn trên sông Bến
Nghé; Long An, Tiền Giang trên sông Tiền; cần Thơ trên
sông Hậu...
Nhiều dòng sông Việt còn được ghi đậm nét trong các
trang sử vàng chống ngoại xâm của dân tộc.
Có thể nói, lịch sử bốn ngàn năm của nước Việt luôn
song hành với các dòng sông.
18
SÔNC HỒNG CHỞ NẶNG PHÙ SA,
CÁI NÔI CỦA NỀN VẢN MINH SÔNG HỒNG
Sông Hống, con sông chính của miền Bắc Việt Nam
Nguồn: Wikipedia, mục Sông Hồng.
SÔNG CÁI - DÒNG SỒNG MẸ CỦA NGƯỜI VIỆT
Cái tên "sông Hồng", "Hồng Hà" hiện nay được lí giải
là dòng nước của sông có màu đỏ do chở nặng phù sa. Sông
Hồng còn có nhiều tên gọi. Một trong các tên gọi dân gian
19
là sông Cái. Cái trong tiếng Việt cổ có nghĩa là Mẹ. Sông
Cái cũng được nhắc tới khi Lí Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư,
Ninh Bình ra Thăng Long.
Xưa kia, người ta ít có điều kiện đi suốt cả một dòng
sông, nên thường lấy tên địa phương dòng sông chảy qua để
gọi tên sông. Phía thượng nguồn, con sông này có tên là sông
Thao, sông Bạch Hạc, sông Phú Lương... Một cái tên thường
được nhắc đến là Nhị Hà: núi Nùng sông Nhị. Thực ra, tên
gọi này vốn là Nhĩ Hà, dựa vào hình dáng sông uốn cong
như vành tai. Đoạn gần Hà Nội, sông còn có những tên như
sông Đại Lan (chảy qua bãi Đại Lan, huyện Thanh Trì), sông
Xích Đằng, Thiên Mạc, Mạn Trù (chảy qua tỉnh Hưng Yên).
Qua đất Hà Nam sông có tên là sông Nam Sang, chảy vào
địa phận Nam Định lại mang tên Hoàng Giang...
Điều thú vị là, sông Hồng lại là tên gọi mới mẻ nhất,
xuất phát từ... tiếng Pháp. Nguyên do, khi lập bản đồ nước
ta, người Pháp thấy dòng sông có màu phíj sa đỏ quạch nên
gọi là Fleuve Rouge. Từ này được sử dụng và dịch sang các
thứ ngôn ngữ khác trên tất cả các bản đồ thế giới. "Dịch
ngược" lại sang tiếng Việt, thành Sông Hồng hay Hồng Hà!
BA SÔNG TỤ LẠI...
Sông Hồng dài tổng cộng 1.149 km, phần chảy trên
lãnh thổ nước ta là 510 km, bắt nguồn từ dãy núi Nguy Sơn
cao 1.776 m, thuộc dây Ai Lao Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung
Quốc. Lúc này sông có tên là Nguyên Giang, chảy qua
20
huyện tự trị Nguyên Giang của người Thái, người Di, người
Cáp Nê.
Xưa kia nơi đây từng là vương quốc Nam Chiếu một
thời hùng mạnh đóng đô tại Côn Minh. Quân Nam Chiếu
đã nhiều lần xâm chiếm An Nam, bấy giờ là đô hộ phủ
thuộc nhà Đường. Phải đến năm 866, quân Nam Chiếu
mới bị Cao Biền đánh bại, buộc phải rút về nước.
Sau khi Nam Chiếu suy tàn, họ Đoàn người dân tộc
Bạch nổi dậy thành lập nước Đại Lí. Vương quốc này đã
phát triển rực rỡ, trải qua 22 đời vua mới bị đế quốc Nguyên
Mông thôn tính.
Nguyên Giang chảy vào nước ta tại Lào Cai, hợp lưu
với một phụ lưu là sông Nậm Thi. Từ đây chảy về Việt Trì,
Phú Thọ được gọi là sông Thao.
Sông Hồng không trở thành vĩ đại nếu không có sự hợp
lực của "ba anh em": sông Thao, sông Lô và sông Đà, trong
đó sông Thao là dòng chính.
1. Sông Thao thao thiết
Sông Thao là tên gọi của đoạn sông Hồng chảy từ biên
giới đến ngã ba Bạch Hạc, Phú Thọ. Sông Thao chạy gần
như song song với dãy núi Con Voi và dãy núi này cũng là
đường chia nước giữa sông Thao với sông Lô phía tả ngạn,
trong khi Hoàng Liên Sơn là đường chia nước giữa sông
Thao và sông Đà. Lưu vực sông Thao rộng tương đương với
lưu vực sông Đà. Mặc dù sông Thao đóng vị thế "anh cả"
21
nhưng lượng nước dòng chảy lại kém hai sông kia.
Sông Thao thường hiền hòa thơ mộng, nhưng vào mùa
lũ nó lồng lên, cuồn cuộn chảy, nước đục ngầu, cuốn phăng
đi tất cả, tạo nên những đợt lũ ống kinh hoàng.
2. Sông Lô nao nức
Lô Giang dòng nước trong xanh có nhà mái xinh
bên đồi núi cao
Lô Giang dòng nước êm ru
Ánh vàng thắm tươi khi trời cười vui...
Lương Ngọc Trác - Lô Giang
Sông Lô, đúng như lời bài hát, khi mới chảy vào nước ta
ở cửa khẩu Thanh Thủy có dòng "trong xanh" và "êm ru",
vì thế mà có tên là Thanh Thủy Giang - sông nước xanh.
Nhưng khi hợp dòng với các phụ lưu, vượt qua thác ghềnh
mùa lũ thì nước sông trở nên đục ngầu và gầm réo như sấm.
Sông Lô có hai phụ lưu chính là sông Chảy và sông
Gâm, trong đó sông Gâm lại có các phụ lưu là sông Nho
Quế và sông Năng.
Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn
Lĩnh (cao 2.419 m) và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liêu Ti
(2.402 m). Theo Lê Quý Đôn, sông Chảy còn có tên là Lôi
Hà - nghĩa là Sông sấm! Phần thượng nguồn sông Chảy gần
như song song với sông Thao, bị ngăn cách bởi dãy núi Con
Voi nằm giữa. Từ Yên Bình về xuôi tàu bè có thể đi lại được,
nhưng vẫn còn phải qua thác ông, thác Bà.
22
Thác Bà đã được ngăn lại thành hồ thủy điện đầu tiên
của miền Bắc nước ta. Hồ Thác Bà trải dài 80 km. Từ Thác
Bà, sông chảy xuôi về Đoan Hùng để hợp lưu với sông Lô.
Sông Gâm còn gọi là sông Gầm, chảy theo hướng bắc nam uốn khúc theo thung lũng của khối núi mang tên Cánh
cung Sông Câm .
Xuất phát từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) sông chảy
qua tỉnh Quảng Tây rồi vào Việt Nam ở tỉnh Cao Bằng.
Xuôi theo dòng nước tới Na Động thì sông Câm nhận nước
cija sông Nho Quế từ Lũng Cú, điểm cực Bắc nước ta, đổ về
nới rộng lòng sông. Sông Gâm quanh co chảy qua địa giới
tỉnh Hà Giang, rồi đổ nước vào sông Lô ở Bình Ca phía bắc
thị xã Tuyên Quang.
Sông Nho Q u ếìà phụ lưu của sông Gâm, bắt nguồn từ
vùng núi Nghiễm Sơn (Trung Quốc), chảy qua điểm cực Bắc
cija lãnh thổ Việt Nam, cách cột cờ Lũng Cú khoảng 2 km
đường chim bay. Hành trình len lỏi của dòng Nho Quế
giữa cao nguyên đá tai mèo, tạo cho ngọn đèo Mã Pí Lèng
(Mèo Vạc, Hà Giang) một vẻ đẹp đầy bí ẩn và hoang dại.
Tại Tu Sản, sông cắt xẻ mạch núi tạo nên vực sâu hun hút
700 m, được coi là vực sâu nhất Đông Dương.
Sông Năng cũng là một phụ lưu của sông Gâm, bắt
nguồn từ các con suối nhỏ ở hai huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm
tỉnh Cao Bằng và huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn. Pác Nặm
có nghĩa là đầu nguồn nước.
23
Hai bên bờ sông Năng, chủ yếu là địa hình cacxtơ với
những núi đá vôi dựng đứng. Có chỗ sông chảy xuyên qua
núi đá vôi Lũng Nham, tạo thành một hang động rất lớn và
tuyệt đẹp, đó là động Puông.
Sông Năng sau khi luồn dưới núi đá vôi chảy đến bản
Húa Tạng thì đến thác Đầu Đẳng. Thác cao trên 60 m,
chảy dài hơn 1.000 m, tạo thành ba bậc, bậc trên cách bậc
dưới từ 3 đến 4 m. Sông Năng đổ nước vào hồ Ba Bể đẹp
nổi tiếng. Từ hồ Ba Bể, sông Năng chảy tới Na Hang thuộc
tỉnh Tuyên Quang để nhập vào dòng sông Gâm.
Sông Lô còn có một phụ lưu bên tả ngạn nữa: sông Phó
Đáy. Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo, huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chủ yếu chảy qua tỉnh Tuyên Quang
và nhập vào sông Lô phía trên cầu Việt Trì độ 200 m.
Sông Phó Đáy được nhắc đến trong bài thơ Đ i thuyền
trên sông Đáy và bài Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh:
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sồng xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
Từ ngã ba sông Phó Đáy và sông Lô đi tiếp về phía hạ
lưu của sông Lô chưa đến 2 km là tới một ngã ba sông, nơi
sông Lô hợp lưu với sông Hồng.
Như vậy, sông Chảy "giao duyên" với sông Lô ở Đoan
Hùng, Phú Thọ. Sông Câm hợp thủy với sông Lô ở Khe Lau,
24
Tuyên Quang. Sông Lô chảy đến ngã ba Bạch Hạc hợp lưu
với sông Hồng.
Sông Lô không lớn bằng sông Thao, không dữ dằn như
sông Đà, nhưng hội tụ đủ đầy vẻ đẹp giang hồ, bi tráng,
kì v ĩ của sông nước miền sơn cước. Trên dòng sông Lô còn
vang vọng chiến thắng Bình Ca hào hùng trong chiến dịch
Việt Bắc năm 1947.
3. Sông Đà dữ dội và thơ mộng
Trong tập kí Sông Đà, Nguyễn Tuân đã mô tả sông Đà
đầy vẻ dữ dằn, hung bạo. Đó là những đoạn sông đôi bờ đá
dựng đứng thành vách chẹn họng dòng sông. Nhưng dữ dội
nhất là ở những thác đá. Chưa thấy sông, người lái đò đã bị
"khủng bố" bởi tiếng thác nước đầy vẻ khiêu khích. Thác
đá xếp thành từng tuyến như một thạch trận chăm chăm
nuốt chửng con thuyền độc mộc.
Nhưng Nguyễn Tuân cũng lại phát hiện ra vẻ hiền hòa
nơi con sông ấy: "B ờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ
sông hồn nhiên như một nỗi niềm c ổ tích". "Con sông Đà
tuôn dài như một áng tóc trữ tình, dầu tóc, chân tóc ẩn hiện
trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai
và cuồn cuộn khói núi M èo đốt nương xuân...".
Mường Tè là nơi đầu tiên sông Đà đổ nước vào nước
ta tại xã Ka Lăng. Tại đây nó có tên là Nậm Tè - nậm tức
là nước hay sông; hai chữ "nậm tè" theo tiếng Thái - Tày
25
có nghĩa là "sông thật", "nước thật", cũng là "sông mẹ".
Quãng sông này có vực sâu hun hút, vào mùa cạn lô nhô
những tảng đá, hươu nai có thể nhảy qua để vượt sông.
Nhưng mùa mưa thì nước đổ ào ào, kéo trôi vô vàn cây cối
theo dòng.
Năm 2011, Nhà máy thủy điện Lai Châu được khởi công
xây dựng tại xã Nậm Hàng, Mường Tè. Công trình này được
xây dựng ở bậc thang trên cùng của dòng chính sông Đà,
bậc trên của thủy điện Sơn La. Nhà máy thủy điện Lai Châu
gồm ba tổ máy với tổng công suất lắp đặt 1.200 MW, mỗi
năm nhà máy sẽ hòa vào mạng lưới điện quốc gia khoảng
4.670,8 triệu kwh, dự kiến hoàn thành vào năm 2017.
Từ Mường Tè xuôi về Lai Châu, dòng sông chảy qua
những vùng thắng cảnh và văn hóa đặc sắc:
Đường lên Mường Lễ bao xa
Trăm bảy mươi thác trăm ba mươi ghềnh.
Tại nơi giao nhau của dòng Nậm Na và sông Đà ở xã
Lê Lợi, huyện Sìn Hồ hiện vẫn còn Di tích lịch sử Bia Lê Lợi
và Đền thờ vua Lê.
Từ Lai Châu, con sông Đà xuôi về qua Điện Biên. Tới
đây, nước dòng sông vẫn xiết lắm. Dòng sông cuồn cuộn
chảy nhưng trong vắt như mặt gương soi. ở dọc theo đoạn
sông này, có người Phù Lá và người Lự, những sắc dân ít
người vẫn giữ phong cách sống riêng.
26
Khi xuôi về Sơn La, con sông Đà mới thực sự khoe hết
vẻ hùng tráng của nó. Dòng sông ăm ắp nước tạo ra cho nơi
đây một tiểu vùng khí hậu tốt lành, cây cối xanh tốt, ruộng
nương phì nhiêu. Nhiều bản làng sầm uất mọc lên ở đôi
bờ. Nhiều sinh hoạt tín ngưỡng liên quan đến dòng sông
tới nay vẫn được bà con gìn giữ. Vào trưa ngày áp Tết, nam
nữ người Thái ra sông Đà gội đầu để gột bỏ mọi xui xẻo của
năm cũ, đón nhận mọi sự tốt lành mà dòng sông mang tới.
Người Dao, người Tày ở Phú Thọ, vào dịp cuối năm mỗi
nhà cử ra một đại diện, ra sông Đà múc một bát nước, nhặt
một viên đá đem về đặt lên bàn thờ cúng thần sông.
Nhà máy thủy điện Sơn La được xây dựng tại tỉnh Sơn
La, huy động lượng nước của các hồ chứa thuộc địa bàn
ba tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn La, nơi đã diễn ra một
cuộc tái định cư khổng lồ: hơn 20.000 hộ với trên 95.000
nhân khẩu đã dời làng cũ để phục vụ xây dựng công trình.
Nhà máy thủy điện Sơn La nằm tại xã ít Ong, huyện
Mường La, tỉnh Sơn La, được khỏi công ngày 2-12-2005. Sau
bảy năm xây dụíig, Thủy điện Sơn La đã được khánh thành
ngày 23-12-2012, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt
Nam và cẳ khu vực Đông Nam Á.
Nằm ở bậc thang thứ hai trong hệ thếng bậc thang thủy
điện trên thượng lưư sông Đà, Thây điện Sơn La là công trinh
phát điện có công suất lắp đặt là 2.400 MVV, gồm 6 tổ máy
kwh
(trong đó tăng thêm cho thủy điện Hòa Bình 1,267 tỉ kwh).
(6 X
400 MW). Sân tượng điện trung bình năm: 10,246 t ỉ
27
Thung Nai chính là nơi con sông Đà xinh đẹp và hùng
vĩ, hiểm trở và khó chinh phục, được chọn làm địa điểm
xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình.
Đập nước Hòa Bình - "công trình thế kỉ 20" - đã chặn
đứng sự hung dữ của dòng sông, bắt sức nước phát điện
phục vụ cho phát triển kinh tế nước ta.
Nhà máy thủy điện Hoà Bình được xây dựng trên dòng
sông Đà thuộc miền Bắc Việt Nam. Trước khi nhà máy thủy
diện Sơn La khánh thành, dây là nhà máy thủy diện lớn nhất
Việt Nam và Đông Nam Á.
Công trình khỗi công xây dựng ngày 6-11-1979, khánh
thành ngày 20-12-1994. Công suất thiết kế là 1.920 MVV, gồm
8 tể máy, mỗi tể máy có công suất 245.000 KVV. sản lượng điện
hằng năm là 8,16 tỉ KVVh.
Đập thủy điện
Hòa Bình.
Từ Hòa Bình, sông Đà uốn theo phần cuối của dãy
Hoàng Liên Sơn chảy về miền trung du Phú Thọ.
Nguyễn Quang Bích (1832-1890) - lãnh tụ phong trào
Cần vương đã cùng thủ lĩnh người các dân tộc Tây Bắc lập
căn cứ chống Pháp tại hạ lưu sông Đà. ông cũng là một nhà
thơ, tác giả của câu thơ nổi tiếng: "Chúng thủy giai đông
tẩu/Đà giang độc bắc lưư'. (Mọi dòng sông đều chảy về
đông, chỉ có sông Đà theo hướng bắc.)
Sông Đà hợp lưu với sông Hồng ở làng Hồng Đà, Phú
Thọ. Theo truyền thuyết đây chính là nơi giao tranh giữa
Sơn Tinh và Thủy Tinh. Tại đây Thủy Tinh đã chặn đánh
Sơn Tinh hòng cướp lại Mị Nương. Nơi hai bên ra lời thách
đấu để quyết phân thắng bại có địa danh là Lời, hay còn
gọi là thác Lời.
Ngã ba Hạc - nơi thủy tụ mở cõi Văn Lang
Xinh thay ngã ba Hạc,
Lạ thay ngã ba Hạc!
Dưới họp một dòng,
Trên chia ba ngạc.
Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào;
Lênh lang dễ biết nông sâu, nước đen pha nước bạc.
Đó là những câu mở đầu bài Ngã ba H ạc phú nổi tiếng
viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Bá Lân (1701 -1 785) - danh
sĩ và đại quan triều Lê Hiển Tông.
29
Ngã ba Hạc, tên đầy đủ là Ngã ba Bạch Hạc, còn có
tên Tam Giang, là nơi hội tụ của ba con sông, để từ đây
chính thức là sông Cái, sông Hồng của nước Việt. Trong
đoạn phú trên, sông Thao có màu nước hồng (đào), sông Lô
có màu biếc, sông Đà có màu đen pha nước bạc.
Theo truyền thuyết, tại miền đất này thuở xưa có nhiều
cây chiên đàn, trên đó rất nhiều chim hạc trắng về đậu. Vì
thế mới có tên là Bạch Hạc.
Ngã ba Bạch Hạc
Đây là miền đất thiêng được các vua Hùng chọn làm
kinh đô của nhà nước Văn Lang. Những địa danh hiện còn
là chứng tích cho thời xa xưa ấy: Thậm Thình - nơi giã gạo,
Minh Nông - nơi vua Hùng dạy dân cấy lúa, Hương Trầm nơi trồng lúa thơm, Lang Đài - đài luyện võ, Bến Gót ...
 





