Chủ tịch Hồ Chí Minh và tầm nhìn chiến lược về thời đại mới trong tuyên ngôn độc lập
LSVN bằng tranh - Tập 40: Đoạn kết thời Lê Sơ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:53' 25-03-2024
Dung lượng: 5.0 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:53' 25-03-2024
Dung lượng: 5.0 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ hai
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Đoạn kết thời Lê Sơ / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa sĩ
Nguyễn Quang Vinh. - Tái bản lần thứ 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
80tr. ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.40).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Tiền Lê, 980-1009 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Early Lê dynasty, 980-1009 — Pictorial works.
959.7022 — dc 22
Đ631
LỜI GIỚI THIỆU
Nhà Lê khởi đầu trong sử sách với chiến tích lẫy lừng: quét
sạch quân xâm lược nhà Minh ra khỏi đất nước, giành lại độc
lập chủ quyền cho Đại Việt. Sử sách cũng không tiếc lời ca ngợi
những thành tựu của nhà Lê từ việc xây dựng đất nước: định khoa
cử, hoàn thiện việc bộ máy triều chính,.. đến việc giữ nước: đối
ngoại với nhà Minh nơi phương bắc, Chiêm Thành ở phương nam.
Khởi đầu oanh liệt là thế, vậy mà chẳng thể tránh được suy vong.
Vua Túc Tông mệnh yểu, nối nghiệp lớn không được bao lâu
thì theo các tiên vương. Nhà Lê bước sang bước ngoặt lớn. Các
vua sau tên thì tàn ác, kẻ thì xa hoa trụy lạc, người thiếu sáng
suốt. Triều đình lại thiếu bề tôi trung, quyền thần nổi lên như ong.
Các vua đều không có đủ năng lực điều hành đất nước khi biến
loạn xảy ra. Đúng khi ấy, Mạc Đăng Dung xuất hiện. Dựa vào sự
thông minh lẫn mưu mô của bản thân đã dần thâu tóm quyền lực,
vô hiệu vua Lê, thực hiện mưu đồ của bản thân. Dầu tham vọng
nhưng không thể phủ nhận rằng Mạc Đăng Dung chỉ là người xô
ngã cây gỗ mục chứ không phải là người đốn ngã một cây tốt tươi.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 40 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Đoạn kết thời Lê sơ” phần lời do
Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Quang
Vinh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 40 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Vua Túc Tông mệnh yểu, lên ngôi không được bao lâu
thì mất. Vua Lê Uy Mục nối ngôi, do hoang dâm vô độ
nên mất sớm, ở ngôi cũng không bao lâu (1505-1509).
Do Lê Uy Mục giết hại tôn thất nhà Lê nên Giản Tu
công Lê Oánh dựng cờ chiêu mộ binh mã tiến đánh Thăng
Long, diệt trừ vua Lê Uy Mục, lên ngôi, tức là Tương Dực
đế. Do sa vào xa hoa trụy lạc, bề tôi tạo biến, giết chết vua.
Vua Lê Chiêu Tông được Trịnh Duy Sản phò tá lên
ngôi, ở ngôi từ năm 1516 đến 1522, không có thực quyền,
quyền hành đều ở trong tay các quyền thần.
4
Ngày 24 tháng 5 năm Giáp Tý (1504), vua
Lê Hiến Tông qua đời, hưởng thọ 43 tuổi (14611504). Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển
14) cho biết rõ rằng: nhà vua vì quá ham mê tửu
sắc mà kiệt sức rồi lâm bệnh nặng và qua đời. Cơ
nghiệp của nhà Lê cũng bắt đầu lung lay kể từ đó.
5
Vua Lê Hiến Tông có tất cả sáu hoàng tử, hoàng tử trưởng là
An vương Lê Tuân. Kế đến là Uy Mục đế Lê Tuấn. Thứ ba là Túc
Tông Hoàng đế Lê Thuần. Còn lại là Thông vương Lê Dung, Minh
vương Lê Trị, Tư vương Lê Dưỡng. Trong số đó có hai người lên
ngôi vua là Lê Thuần và Lê Tuấn.
6
Khi Lê Hiến Tông qua đời, Hoàng tử thứ ba là Lê Thuần được
đưa lên nối ngôi. Bấy giờ, Lê Thuần mới 16 tuổi, ốm yếu và mang
nhiều bệnh tật trong người. Nhà vua ở ngôi chưa được 6 tháng thì
đã qua đời, miếu hiệu là Lê Túc Tông. Trong 6 tháng ở ngôi, Lê
Túc Tông gần như chỉ làm được một việc duy nhất, ấy là đặt cho
mình niên hiệu Thái Trinh.
7
Hoàng tử thứ hai của vua Lê Hiến Tông là
Lê Tuấn được đưa lên nối ngôi. Đó là vua Lê
Uy Mục (1505-1509). Lê Tuấn sinh ngày 5
tháng 5 năm Mậu Thân (1488), thân mẫu là bà
Nguyễn Thị Cận người xã Phù Chẩn, huyện
Đông Ngàn (nay thuộc tỉnh Bắc Giang). Vì có
con làm vua, bà được tôn phong là Chiêu Nhân
Hoàng Thái hậu.
8
Lý lịch xuất thân của bà Nguyễn Thị Cận cũng khá đặc biệt.
Sử cũ cho hay, bà mồ côi cha từ lúc còn tấm bé, nhà quá nghèo
khổ nên đành đem bà bán cho một nhà giàu ở Thăng Long. Thế
rồi nhà giàu bị tội, gia sản bị tịch thu, bà bị sung làm nô tỳ cho
vào hầu hạ tại cung Trường Lạc Hoàng Thái hậu (thân mẫu của
vua Lê Hiến Tông).
9
Lớn lên, Nguyễn Thị Cận vừa có nhan sắc lại vừa linh lợi, vì thế
Lê Hiến Tông lấy làm ưa, đưa vào hầu hạ mình, sau sách phong
lên hàng phi. Bà mất ngay sau khi sinh hạ Lê Tuấn, vì thế, Lê
Tuấn được một bà phi khác cũng họ Nguyễn quê ở xã Hoa Lăng,
huyện Thủy Đường, nay là huyện Thủy Nguyên (ngoại thành Hải
Phòng) nuôi dưỡng.
10
Việc Lê Tuấn lên ngôi khiến cho bà Trường Lạc (lúc này được
tôn phong là Thái Hoàng Thái hậu) không vui lòng, bởi vì bà cho
rằng, một người mẹ có lý lịch xuất thân thấp hèn như Nguyễn Thị
Cận thì không thể nào sinh hạ được một đứa con tử tế. Tất nhiên,
cách suy luận của bà là sai, nhưng sự thực lại quả đúng là như thế.
11
Lời này đến tai của Lê Tuấn, cho nên chỉ ba tháng sau khi lên
ngôi, Lê Tuấn (tức vua Lê Uy Mục) đã ngầm sai người đến giết hại
bà Trường Lạc (tức là bà nội của chính nhà vua). Để che dấu tội
lỗi của mình, vua Lê Uy Mục đã vờ tuyên bố nghỉ thiết triều bảy
ngày để chịu tang. Nhưng, sử cũ không tha, đã ghi chép lại tất cả.
12
Sinh thời, vua Lê Hiến Tông cũng
từng nhận xét rằng Lê Tuấn là kẻ thất
đức, không thể trao ngôi báu được.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ
thực lục, quyển 14) cũng đã thẳng thắn
hạ bút viết về sự thất đức của Lê Tuấn
như sau: “Vua nghiện rượu, rất hiếu
sát và hoang dâm, lại thích ra oai và
tàn hại tông thất, ngầm giết tổ mẫu,
để mặc cho họ ngoại hoành hành, làm
cho trăm họ oán giận, người bấy giờ
gọi là vua quỷ”.
13
Sử cũ chép rằng, khi vua Lê Hiến Tông đau nặng, mẹ nuôi của
Lê Huyên là bà Kính phi họ Nguyễn đã đem vàng đến đút lót cho
hai đại thần là Nguyễn Quang Bật và Đàm Văn Lễ, nhờ hai người
này sửa di chiếu để con của bà được lên ngôi vua. Nhưng cả hai
không nhận, ngược lại còn quyết chí tôn lập Lê Thuần, khiến Lê
Tuấn rất căm tức.
14
Vì thế, khi Lê Thuần (tức vua Lê Túc Tông) mất, Lê Uy Mục
được nối ngôi nhớ lại chuyện này nên rắp tâm trả thù. Theo lời tâu
của hai viên nịnh thần là Khương Chủng và Nguyễn Nhữ Vi, Lê
Uy Mục bèn biếm chức của cả Nguyễn Quang Bật và Đàm Văn
Lễ rồi bắt hai người phải vào nhận việc tại thừa tuyên Quảng Nam.
15
Nhưng Nguyễn Quang Bật và Đàm Văn Lễ vừa đi thì Lê Uy
Mục lập tức cho người đuổi theo, đến huyện Chân Phúc (nay thuộc
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) thì đuổi kịp. Họ truyền lệnh vua,
bắt Nguyễn Quang Bật và Đàm Văn Lễ phải nhảy xuống sông
mà chết.
16
Nhiều quan lại trong triều nghe tin này, cho là cả hai người
đều không đáng tội chết nên dâng lời can gián Lê Uy Mục, nhằm
tránh những chuyện tương tự như thế cho tương lai. Lê Uy Mục
bèn đổ hết tội lỗi cho Nguyễn Nhữ Vi. Rốt cuộc, Nguyễn Nhữ Vi
cũng bị đem ra xét xử và khép vào tội phải chết.
17
Nguyễn Nhữ Vi bị giết nhưng Khương Chủng lại được bình an,
nguyên do chỉ vì Khương Chủng vừa là đồng hương, lại cũng là
người trong phe cánh cũ của bà Nguyễn Thị Cận (thân mẫu của
Lê Uy Mục). Bà tuy đã qua đời từ lâu, nhưng do Lê Tuấn được
làm vua nên phe cánh của bà lại được trỗi dậy. Vì thế, Khương
Chủng chẳng những được vô sự mà còn tiếp tục làm nhiều điều
càn quấy trong triều.
18
Người đương thời cho rằng,
chính quyền thời Lê Uy Mục là
chính quyền của họ ngoại nhà vua.
Ba thế lực lớn của họ ngoại nhà
vua lúc đó là: Thế lực vùng Hoa
Lăng (mẹ nuôi của Lê Uy Mục),
thế lực vùng Nhân Mục (quê bà
Hoàng hậu của vua là Trần Thị
Tùng) và thế lực vùng Phù Chẩn
(quê bà Nguyễn Thị Cẩn).
19
Dựa vào ba thế lực đó, Lê Uy Mục tấn công không chút khoan
nhượng vào bà con bên dòng họ nội của chính mình. Tất cả anh
em của nhà vua đều bị nghi ngờ là có mưu phản. Hai mươi sáu
người (kể cả anh em con chú con bác) bị kiểm soát rất gắt gao,
chẳng khác gì bị giam lỏng, riêng Giản Tu công Lê Oánh thì thực
sự bị tống vào ngục.
20
Trong triều, tất cả những ai trước đó không có ý tôn lập Lê Uy
Mục đều lần lượt bị nghi kỵ, những ai có ý chống đối thì bị giáng
chức hoặc bị giết hại. Các quan chia bè kết cánh, sẵn sàng vu oan
và bức hại lẫn nhau. Bọn cơ hội nhân đó tìm cách vơ vét của dân
để làm giàu. Đất nước ngày một điêu linh.
21
Trong tù, Giản Tu công Lê Oánh tìm cánh đút lót cho bọn cai
ngục, nhờ đó mà thoát được ra ngoài. Sợ bị bắt lại, Lê Oánh không
kịp từ biệt gia đình và vợ con, bỏ kinh thành Thăng Long chạy
thẳng một mạch vào Tây Đô (Thanh Hóa).
22
Chạy đến cửa Thần Phù (nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh
Bình, nhưng đã bị lấp), Giảm Tu công Lê Oánh được em của bà
Trường Lạc là Nguyễn Văn Lang cùng nhiều văn thần và tướng
lĩnh khác đón rước và tôn lập làm minh chủ của lực lượng chống Lê
Uy Mục. Từ đây, cuộc tranh giành quyền lực cuối triều Lê bắt đầu.
23
Để tạm che dấu tung tích, Giản Tu công Lê Oánh trá xưng là
Cẩm Giang vương (tức Lê Sùng, anh ruột của Oánh) và xuống
lệnh chiêu mộ binh mã để chuẩn bị tấn công Lê Uy Mục. Bảng
nhãn Lương Đắc Bằng được tiến cử đảm đương việc thảo hịch
gửi đi khắp nơi.
24
Bài hịch có đoạn lên án Lê Uy Mục rất gay gắt: “Tước đã cạn
mà thưởng lãm không cạn; dân đã cùng mà lạm thu không cùng.
Phú thuế thu đến tơ tóc. Xài tiền như bùn rác. Bạo ngược chẳng
kém Tần Chính. Đãi công thần như chó ngựa” và được truyền
đọc trong dân chúng Tây Đô. Hưởng ứng lời hịch đó, đông đảo
người đã theo về.
25
Cuối năm 1509, từ Tây Đô, Giản Tu công Lê Oánh đem quân
ồ ạt tiến về Thăng Long. Để trả thù, Lê Uy Mục bắt Cẩm Giang
vương Lê Sùng (anh của Oánh) cùng với Lê Doanh, Lê Quyên
(em của Oánh) và Thọ Mai Phò mã Nguyễn Kính đem giết hết,
dẫu họ không hề can dự vào cuộc nội chiến này.
26
Quân đội của Lê Uy Mục chống trả vừa lúng túng và không có
hiệu quả, lại vừa chán nản về tinh thần nên liên tiếp bị thất bại.
Phần lớn những tướng lĩnh được Lê Uy Mục sai ra trận đều tìm
cách lẩn trốn. Cả kinh thành nhốn nháo. Vì thế, Giản Tu công Lê
Oánh tiến vào Thăng Long như vào chỗ không người.
27
Bấy giờ Lê Uy Mục ở ngoài thì bị Giản Tu công Lê Oánh tấn
công, ở trong thì Lê Quảng Độ nổi dậy làm nội ứng nên hoảng
hốt bỏ chạy. Đến phường Nhật Chiêu (nay là phường Nhật Tân,
Hà Nội), Lê Uy Mục bị một tên vệ sĩ cũ của mình đuổi kịp, bắt
nạp cho Giản Tu công Lê Oánh.
28
Giản Tu Công Lê Oánh bắt Lê Uy Mục phải uống thuốc độc
để tự tử. Xong, vì căm hận việc Lê Uy Mục giết hại quá nhiều
thân nhân của mình, nên sai người lấy thi thể Lê Uy Mục bỏ vào
họng súng lớn để bắn cho tan tành ra. Rất nhiều ngoại thích của
Lê Uy Mục cũng bị giết hại.
29
Hoàng hậu của Lê Uy Mục là Trần Thị Tùng bỏ kinh thành giả
làm thường dân, chạy về khu Hồng Mai (nay là khu Bạch Mai,
Hà Nội) xin nương náu trong một gia đình và ở đấy một thời gian
ngắn. Sau bà chạy vào sống nhờ trong một ngôi chùa ở gần đấy,
nhưng có lẽ do tự thấy mình không thể thoát được, bà đã thắt cổ
tự tử.
30
Ngày 4 tháng 12 năm Kỷ Tỵ (1509), Giản Tu công Lê Oánh
lên ngôi, đó là vua Lê Tương Dực. Công việc đầu tiên của Lê
Tương Dực là giết chết tên vệ sĩ đã có công đuổi theo bắt Lê Uy
Mục đem về dâng nạp cho mình vì hành động ấy chứng tỏ y là
một kẻ bất trung.
31
Những tưởng trước tấm gương
của Lê Uy Mục, khi lên ngôi Lê
Tương Dực phải lo sắp đặt kỷ
cương, giữ gìn nếp cũ xưa kia của
tiên tổ. Nhưng chẳng được bao
lâu nhà vua lại sa vào tửu sắc và
hoang chơi, bất chấp mọi lời can
gián của các bậc trung thần. Vua
thường du ngoạn phong cảnh Tây
Hồ, sai cung nữ ở trần múa hát
trên thuyền.
32
Thấy Lê Tương Dực cũng chẳng khác gì Lê Uy Mục trước
đó, các trung thần cũ của triều Lê vô cùng thất vọng. Bảng nhãn
Lương Đắc Bằng đã dâng lời sớ rất thống thiết: “Từ khi bệ hạ
lên ngôi tới nay, hòa khí chưa thuận, can qua chưa dứt, kỷ cương
triều đình chưa xếp đặt, việc quân việc nước chưa sửa sang, tai dị
xảy ra luôn, như thế sợ đạo trời chưa thuận. Lại có núi đá sụt lở,
sợ đạo đất chưa yên. Và tham
nhũng, nghịch tặc triền miên,
sợ đạo người chưa ổn”.
33
Tháng 11 năm 1511, cuộc khởi nghĩa do Trần Tuân lãnh đạo
đã bùng nổ. Tuân có ông và cha đều đậu Tiến sĩ, làm quan cho
triều Lê. Nay thấy vua chỉ biết ăn chơi, không lo chính sự, bất
mãn nên nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa này đã làm cho cả triều đình
náo loạn. Phần nhiều các đại thần đều bí mật cùng gia quyến di
tản khỏi Thăng Long, nhằm đối phó với mọi bất trắc có thể xảy ra.
34
Được tin này, Lê Tương Dực sai người đi khám xét và sẵn
sàng giết bất cứ ai cùng gia đình đi lánh nạn. Tuy mệnh lệnh được
truyền đi rất gắt gao, nhưng rốt cuộc cả triều đình cũng chỉ còn
11 vị quan ở lại, trong đó có người ở lại vì chẳng biết phải đi đâu.
Điều đó chứng tỏ quan lại lúc này mạnh ai nấy lo, không cùng
đồng lòng như các đời vua trước. Khi Trần Tuân bị giết chết, bá
quan văn võ mới bắt đầu lục tục kéo về.
35
Tuy phải một phen hú vía
nhưng Lê Tương Dực vẫn
chẳng có gì thay đổi, lại lao
vào ăn chơi xa xỉ như trước. Bấy
giờ, sứ giả nhà Minh là Trạm
Nhược Thủy và Phan Hy Tăng
sang nước ta đã nhận xét về Lê
Tương Dực rằng, vua “mặt đẹp
mà lưng cong, tướng hiếu dâm
như tướng heo, loạn vong tất
không còn xa nữa”. Bởi nhận
xét trên của sứ giả nhà Minh,
đời vẫn gọi Lê Tương Dực là
vua heo.
36
Để thỏa mãn sự ăn chơi trác tráng của mình, Lê Tương Dực
sai Vũ Như Tô, một thợ mộc có tài thời ấy, làm một cung điện có
đến hơn 100 nóc nhà dựng Cửu Trùng Đài; lại cho đào hồ thông
với sông Tô lịch để vua tiện việc ngao du. Công việc kiến thiết
tốn kém không biết bao nhiêu mà kể. Dân phu phải lao động
phục dịch suốt mấy năm trời vô cùng cực khổ. Người đương thời
ai cũng oán thán.
37
Dưới thời trị vì của vua heo, bọn xu nịnh và cơ hội mặc sức
hoành hành. Trong số đó, nổi bật hơn cả là Trịnh Duy Sản và Mạc
Đăng Dung. Trịnh Duy Sản là cháu nội của Trịnh Khả, người có
công phò giúp Lê Lợi kháng chiến chống Minh khi xưa. Nay Sản
lại có công đưa Tương Dực lên ngôi nên được phong Mỹ Huệ hầu
và là võ tướng của triều đình.
38
Khi Trần Tuân khởi nghĩa, Trịnh Duy Sản được lệnh đem quân
đi đàn áp nhưng bị Trần Tuân đánh cho tan tành, chỉ còn trong tay
30 binh sĩ. Bị dồn vào đường cùng, tất cả xé áo làm cờ, giương
lên chạy thục mạng, tính sẽ đi đầu hàng Trần Tuân.
39
Nhưng chẳng dè, Trịnh Duy Sản và đám quân bại trận chạy
đúng vào bản doanh của Trần Tuân lúc Tuân đang uống rượu, việc
canh gác rất lỏng lẻo. Nhân cơ hội ngàn vàng đó, Sản đâm chết
Trần Tuân và nhanh chóng chuyển thế bại thành thế thắng. Từ
đấy Trịnh Duy Sản được coi là người có công lớn và được phong
Nguyên Quận công nên rất vênh vang.
40
Còn Mạc Đăng Dung cũng là võ tướng nhưng so với Trịnh
Duy Sản thì hoạn lộ của Mạc Đăng Dung chỉ mới bắt đầu. Chính
sử cũng như dã sử đã chép rằng, thuở nhỏ, Mạc Đăng Dung sống
bằng nghề đánh cá. Một lần, nhân triều đình tổ chức thi võ, Mạc
Đăng Dung dự thi và trúng tuyển.
41
Nhờ có tài và khôn khéo, Mạc Đăng Dung được phong dần
đến chức Đô chỉ huy sứ, tước Vũ Xuyên bá. Bấy giờ, nếu Trịnh
Duy Sản dựa vào quê nhà là Thanh Hóa để củng cố thế lực, thì
Mạc Đăng Dung cũng thông minh tìm cách tạo vây cánh ở nơi
sinh trưởng của mình là vùng Cổ Trai, Nghi Dương (nay thuộc
Hải Phòng). Ở Thăng Long, Lê Tương Dực chỉ là kẻ hữu danh vô
thực, quanh quẩn trong đám cung nữ và hoạn quan.
42
Cậy mình có công và được trọng thưởng
nhiều lần, Trịnh Duy Sản sinh ra ngạo mạn, nói
năng không kiêng nể ai. Điều đó khiến cho Lê
Tương Dực rất ghét. Có lần, Lê Tương Dực đã
sai quân sĩ lấy gậy đánh Trịnh Duy Sản ngay
giữa triều đình về tội lộng ngôn. Trịnh Duy Sản
lấy làm căm tức, chỉ mong có cơ hội để trả thù.
43
Tháng 4 năm Bính Tý (1516), nhân việc
cả kinh thành Thăng Long lại bị náo loạn
bởi cuộc khởi nghĩa của Trần Cao, Trịnh
Duy Sản liền cùng với Lê Quảng Độ và
Trình Chí Sâm bí mật bàn mưu thí nghịch.
Mượn cớ chuẩn bị lực lượng và phương
tiện để đi đàn áp Trần Cao, Trịnh Duy Sản
ngang nhiên cho quân tập trung sát ngay
Thăng Long.
44
Tối ngày 6 tháng 4, quân của Trịnh Duy Sản bắt đầu tràn vào
kinh thành. Lê Tương Dực hốt hoảng tưởng là quân của Trần Cao,
bèn theo lối tắt, lẩn trốn ra khu vực phường Bích Câu (nay thuộc
quận Đống Đa, Hà Nội). Gặp Trịnh Duy Sản đuổi theo, Lê Tương
Dực vẫn không biết gì, liền hỏi: “Giặc ở hướng nào?”.
45
Trịnh Duy Sản nghe vậy thì quay mặt đi, không thèm trả lời,
lại còn cười ầm ỹ lên. Chột dạ, Lê Tương Dực liền thúc ngựa bỏ
chạy. Trịnh Duy Sản lập tức sai võ sĩ đuổi theo, đâm Lê Tương Dực
ngã xuống rồi nhân đó giết chết. Đó là ngày 7 tháng 4 năm Bính
Tý (1516), Lê Tương Dực mới 23 tuổi, ở ngôi vừa được 6 năm.
46
Sau khi giết Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản liền đưa cháu của
Lê Tương Dực là Quang Trị (lúc này mới 8 tuổi) lên ngôi. Nhưng,
Quang Trị ở ngôi vừa được ba ngày, chưa kịp đặt cả niên hiệu,
thì đã bị Trịnh Duy Đại là anh của Trịnh Duy Sản đem về Tây
Đô rồi giết chết. Một người cháu khác của Lê Tương Dực là Lê
Y được đưa lên ngai vàng.
47
Lê Y (còn có tên khác là Lê Huệ) là con trưởng của Cẩm Giang
vương Lê Sùng, cháu gọi Lê Tương Dực bằng chú ruột. Khi được
đưa lên ngôi vua, Lê Y mới mười bốn tuổi. Đó là vua Lê Chiêu
Tông (1516–1522). Trước khi lên ngôi, Lê Y đang lánh nạn ở
Thanh Hóa. Đến đây, triều đình đã có vua mới nhưng chính sự
thì vẫn nát như cũ.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Đoạn kết thời Lê Sơ / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa sĩ
Nguyễn Quang Vinh. - Tái bản lần thứ 2. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
80tr. ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.40).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Tiền Lê, 980-1009 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Early Lê dynasty, 980-1009 — Pictorial works.
959.7022 — dc 22
Đ631
LỜI GIỚI THIỆU
Nhà Lê khởi đầu trong sử sách với chiến tích lẫy lừng: quét
sạch quân xâm lược nhà Minh ra khỏi đất nước, giành lại độc
lập chủ quyền cho Đại Việt. Sử sách cũng không tiếc lời ca ngợi
những thành tựu của nhà Lê từ việc xây dựng đất nước: định khoa
cử, hoàn thiện việc bộ máy triều chính,.. đến việc giữ nước: đối
ngoại với nhà Minh nơi phương bắc, Chiêm Thành ở phương nam.
Khởi đầu oanh liệt là thế, vậy mà chẳng thể tránh được suy vong.
Vua Túc Tông mệnh yểu, nối nghiệp lớn không được bao lâu
thì theo các tiên vương. Nhà Lê bước sang bước ngoặt lớn. Các
vua sau tên thì tàn ác, kẻ thì xa hoa trụy lạc, người thiếu sáng
suốt. Triều đình lại thiếu bề tôi trung, quyền thần nổi lên như ong.
Các vua đều không có đủ năng lực điều hành đất nước khi biến
loạn xảy ra. Đúng khi ấy, Mạc Đăng Dung xuất hiện. Dựa vào sự
thông minh lẫn mưu mô của bản thân đã dần thâu tóm quyền lực,
vô hiệu vua Lê, thực hiện mưu đồ của bản thân. Dầu tham vọng
nhưng không thể phủ nhận rằng Mạc Đăng Dung chỉ là người xô
ngã cây gỗ mục chứ không phải là người đốn ngã một cây tốt tươi.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 40 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Đoạn kết thời Lê sơ” phần lời do
Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Quang
Vinh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 40 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Vua Túc Tông mệnh yểu, lên ngôi không được bao lâu
thì mất. Vua Lê Uy Mục nối ngôi, do hoang dâm vô độ
nên mất sớm, ở ngôi cũng không bao lâu (1505-1509).
Do Lê Uy Mục giết hại tôn thất nhà Lê nên Giản Tu
công Lê Oánh dựng cờ chiêu mộ binh mã tiến đánh Thăng
Long, diệt trừ vua Lê Uy Mục, lên ngôi, tức là Tương Dực
đế. Do sa vào xa hoa trụy lạc, bề tôi tạo biến, giết chết vua.
Vua Lê Chiêu Tông được Trịnh Duy Sản phò tá lên
ngôi, ở ngôi từ năm 1516 đến 1522, không có thực quyền,
quyền hành đều ở trong tay các quyền thần.
4
Ngày 24 tháng 5 năm Giáp Tý (1504), vua
Lê Hiến Tông qua đời, hưởng thọ 43 tuổi (14611504). Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển
14) cho biết rõ rằng: nhà vua vì quá ham mê tửu
sắc mà kiệt sức rồi lâm bệnh nặng và qua đời. Cơ
nghiệp của nhà Lê cũng bắt đầu lung lay kể từ đó.
5
Vua Lê Hiến Tông có tất cả sáu hoàng tử, hoàng tử trưởng là
An vương Lê Tuân. Kế đến là Uy Mục đế Lê Tuấn. Thứ ba là Túc
Tông Hoàng đế Lê Thuần. Còn lại là Thông vương Lê Dung, Minh
vương Lê Trị, Tư vương Lê Dưỡng. Trong số đó có hai người lên
ngôi vua là Lê Thuần và Lê Tuấn.
6
Khi Lê Hiến Tông qua đời, Hoàng tử thứ ba là Lê Thuần được
đưa lên nối ngôi. Bấy giờ, Lê Thuần mới 16 tuổi, ốm yếu và mang
nhiều bệnh tật trong người. Nhà vua ở ngôi chưa được 6 tháng thì
đã qua đời, miếu hiệu là Lê Túc Tông. Trong 6 tháng ở ngôi, Lê
Túc Tông gần như chỉ làm được một việc duy nhất, ấy là đặt cho
mình niên hiệu Thái Trinh.
7
Hoàng tử thứ hai của vua Lê Hiến Tông là
Lê Tuấn được đưa lên nối ngôi. Đó là vua Lê
Uy Mục (1505-1509). Lê Tuấn sinh ngày 5
tháng 5 năm Mậu Thân (1488), thân mẫu là bà
Nguyễn Thị Cận người xã Phù Chẩn, huyện
Đông Ngàn (nay thuộc tỉnh Bắc Giang). Vì có
con làm vua, bà được tôn phong là Chiêu Nhân
Hoàng Thái hậu.
8
Lý lịch xuất thân của bà Nguyễn Thị Cận cũng khá đặc biệt.
Sử cũ cho hay, bà mồ côi cha từ lúc còn tấm bé, nhà quá nghèo
khổ nên đành đem bà bán cho một nhà giàu ở Thăng Long. Thế
rồi nhà giàu bị tội, gia sản bị tịch thu, bà bị sung làm nô tỳ cho
vào hầu hạ tại cung Trường Lạc Hoàng Thái hậu (thân mẫu của
vua Lê Hiến Tông).
9
Lớn lên, Nguyễn Thị Cận vừa có nhan sắc lại vừa linh lợi, vì thế
Lê Hiến Tông lấy làm ưa, đưa vào hầu hạ mình, sau sách phong
lên hàng phi. Bà mất ngay sau khi sinh hạ Lê Tuấn, vì thế, Lê
Tuấn được một bà phi khác cũng họ Nguyễn quê ở xã Hoa Lăng,
huyện Thủy Đường, nay là huyện Thủy Nguyên (ngoại thành Hải
Phòng) nuôi dưỡng.
10
Việc Lê Tuấn lên ngôi khiến cho bà Trường Lạc (lúc này được
tôn phong là Thái Hoàng Thái hậu) không vui lòng, bởi vì bà cho
rằng, một người mẹ có lý lịch xuất thân thấp hèn như Nguyễn Thị
Cận thì không thể nào sinh hạ được một đứa con tử tế. Tất nhiên,
cách suy luận của bà là sai, nhưng sự thực lại quả đúng là như thế.
11
Lời này đến tai của Lê Tuấn, cho nên chỉ ba tháng sau khi lên
ngôi, Lê Tuấn (tức vua Lê Uy Mục) đã ngầm sai người đến giết hại
bà Trường Lạc (tức là bà nội của chính nhà vua). Để che dấu tội
lỗi của mình, vua Lê Uy Mục đã vờ tuyên bố nghỉ thiết triều bảy
ngày để chịu tang. Nhưng, sử cũ không tha, đã ghi chép lại tất cả.
12
Sinh thời, vua Lê Hiến Tông cũng
từng nhận xét rằng Lê Tuấn là kẻ thất
đức, không thể trao ngôi báu được.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ
thực lục, quyển 14) cũng đã thẳng thắn
hạ bút viết về sự thất đức của Lê Tuấn
như sau: “Vua nghiện rượu, rất hiếu
sát và hoang dâm, lại thích ra oai và
tàn hại tông thất, ngầm giết tổ mẫu,
để mặc cho họ ngoại hoành hành, làm
cho trăm họ oán giận, người bấy giờ
gọi là vua quỷ”.
13
Sử cũ chép rằng, khi vua Lê Hiến Tông đau nặng, mẹ nuôi của
Lê Huyên là bà Kính phi họ Nguyễn đã đem vàng đến đút lót cho
hai đại thần là Nguyễn Quang Bật và Đàm Văn Lễ, nhờ hai người
này sửa di chiếu để con của bà được lên ngôi vua. Nhưng cả hai
không nhận, ngược lại còn quyết chí tôn lập Lê Thuần, khiến Lê
Tuấn rất căm tức.
14
Vì thế, khi Lê Thuần (tức vua Lê Túc Tông) mất, Lê Uy Mục
được nối ngôi nhớ lại chuyện này nên rắp tâm trả thù. Theo lời tâu
của hai viên nịnh thần là Khương Chủng và Nguyễn Nhữ Vi, Lê
Uy Mục bèn biếm chức của cả Nguyễn Quang Bật và Đàm Văn
Lễ rồi bắt hai người phải vào nhận việc tại thừa tuyên Quảng Nam.
15
Nhưng Nguyễn Quang Bật và Đàm Văn Lễ vừa đi thì Lê Uy
Mục lập tức cho người đuổi theo, đến huyện Chân Phúc (nay thuộc
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) thì đuổi kịp. Họ truyền lệnh vua,
bắt Nguyễn Quang Bật và Đàm Văn Lễ phải nhảy xuống sông
mà chết.
16
Nhiều quan lại trong triều nghe tin này, cho là cả hai người
đều không đáng tội chết nên dâng lời can gián Lê Uy Mục, nhằm
tránh những chuyện tương tự như thế cho tương lai. Lê Uy Mục
bèn đổ hết tội lỗi cho Nguyễn Nhữ Vi. Rốt cuộc, Nguyễn Nhữ Vi
cũng bị đem ra xét xử và khép vào tội phải chết.
17
Nguyễn Nhữ Vi bị giết nhưng Khương Chủng lại được bình an,
nguyên do chỉ vì Khương Chủng vừa là đồng hương, lại cũng là
người trong phe cánh cũ của bà Nguyễn Thị Cận (thân mẫu của
Lê Uy Mục). Bà tuy đã qua đời từ lâu, nhưng do Lê Tuấn được
làm vua nên phe cánh của bà lại được trỗi dậy. Vì thế, Khương
Chủng chẳng những được vô sự mà còn tiếp tục làm nhiều điều
càn quấy trong triều.
18
Người đương thời cho rằng,
chính quyền thời Lê Uy Mục là
chính quyền của họ ngoại nhà vua.
Ba thế lực lớn của họ ngoại nhà
vua lúc đó là: Thế lực vùng Hoa
Lăng (mẹ nuôi của Lê Uy Mục),
thế lực vùng Nhân Mục (quê bà
Hoàng hậu của vua là Trần Thị
Tùng) và thế lực vùng Phù Chẩn
(quê bà Nguyễn Thị Cẩn).
19
Dựa vào ba thế lực đó, Lê Uy Mục tấn công không chút khoan
nhượng vào bà con bên dòng họ nội của chính mình. Tất cả anh
em của nhà vua đều bị nghi ngờ là có mưu phản. Hai mươi sáu
người (kể cả anh em con chú con bác) bị kiểm soát rất gắt gao,
chẳng khác gì bị giam lỏng, riêng Giản Tu công Lê Oánh thì thực
sự bị tống vào ngục.
20
Trong triều, tất cả những ai trước đó không có ý tôn lập Lê Uy
Mục đều lần lượt bị nghi kỵ, những ai có ý chống đối thì bị giáng
chức hoặc bị giết hại. Các quan chia bè kết cánh, sẵn sàng vu oan
và bức hại lẫn nhau. Bọn cơ hội nhân đó tìm cách vơ vét của dân
để làm giàu. Đất nước ngày một điêu linh.
21
Trong tù, Giản Tu công Lê Oánh tìm cánh đút lót cho bọn cai
ngục, nhờ đó mà thoát được ra ngoài. Sợ bị bắt lại, Lê Oánh không
kịp từ biệt gia đình và vợ con, bỏ kinh thành Thăng Long chạy
thẳng một mạch vào Tây Đô (Thanh Hóa).
22
Chạy đến cửa Thần Phù (nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh
Bình, nhưng đã bị lấp), Giảm Tu công Lê Oánh được em của bà
Trường Lạc là Nguyễn Văn Lang cùng nhiều văn thần và tướng
lĩnh khác đón rước và tôn lập làm minh chủ của lực lượng chống Lê
Uy Mục. Từ đây, cuộc tranh giành quyền lực cuối triều Lê bắt đầu.
23
Để tạm che dấu tung tích, Giản Tu công Lê Oánh trá xưng là
Cẩm Giang vương (tức Lê Sùng, anh ruột của Oánh) và xuống
lệnh chiêu mộ binh mã để chuẩn bị tấn công Lê Uy Mục. Bảng
nhãn Lương Đắc Bằng được tiến cử đảm đương việc thảo hịch
gửi đi khắp nơi.
24
Bài hịch có đoạn lên án Lê Uy Mục rất gay gắt: “Tước đã cạn
mà thưởng lãm không cạn; dân đã cùng mà lạm thu không cùng.
Phú thuế thu đến tơ tóc. Xài tiền như bùn rác. Bạo ngược chẳng
kém Tần Chính. Đãi công thần như chó ngựa” và được truyền
đọc trong dân chúng Tây Đô. Hưởng ứng lời hịch đó, đông đảo
người đã theo về.
25
Cuối năm 1509, từ Tây Đô, Giản Tu công Lê Oánh đem quân
ồ ạt tiến về Thăng Long. Để trả thù, Lê Uy Mục bắt Cẩm Giang
vương Lê Sùng (anh của Oánh) cùng với Lê Doanh, Lê Quyên
(em của Oánh) và Thọ Mai Phò mã Nguyễn Kính đem giết hết,
dẫu họ không hề can dự vào cuộc nội chiến này.
26
Quân đội của Lê Uy Mục chống trả vừa lúng túng và không có
hiệu quả, lại vừa chán nản về tinh thần nên liên tiếp bị thất bại.
Phần lớn những tướng lĩnh được Lê Uy Mục sai ra trận đều tìm
cách lẩn trốn. Cả kinh thành nhốn nháo. Vì thế, Giản Tu công Lê
Oánh tiến vào Thăng Long như vào chỗ không người.
27
Bấy giờ Lê Uy Mục ở ngoài thì bị Giản Tu công Lê Oánh tấn
công, ở trong thì Lê Quảng Độ nổi dậy làm nội ứng nên hoảng
hốt bỏ chạy. Đến phường Nhật Chiêu (nay là phường Nhật Tân,
Hà Nội), Lê Uy Mục bị một tên vệ sĩ cũ của mình đuổi kịp, bắt
nạp cho Giản Tu công Lê Oánh.
28
Giản Tu Công Lê Oánh bắt Lê Uy Mục phải uống thuốc độc
để tự tử. Xong, vì căm hận việc Lê Uy Mục giết hại quá nhiều
thân nhân của mình, nên sai người lấy thi thể Lê Uy Mục bỏ vào
họng súng lớn để bắn cho tan tành ra. Rất nhiều ngoại thích của
Lê Uy Mục cũng bị giết hại.
29
Hoàng hậu của Lê Uy Mục là Trần Thị Tùng bỏ kinh thành giả
làm thường dân, chạy về khu Hồng Mai (nay là khu Bạch Mai,
Hà Nội) xin nương náu trong một gia đình và ở đấy một thời gian
ngắn. Sau bà chạy vào sống nhờ trong một ngôi chùa ở gần đấy,
nhưng có lẽ do tự thấy mình không thể thoát được, bà đã thắt cổ
tự tử.
30
Ngày 4 tháng 12 năm Kỷ Tỵ (1509), Giản Tu công Lê Oánh
lên ngôi, đó là vua Lê Tương Dực. Công việc đầu tiên của Lê
Tương Dực là giết chết tên vệ sĩ đã có công đuổi theo bắt Lê Uy
Mục đem về dâng nạp cho mình vì hành động ấy chứng tỏ y là
một kẻ bất trung.
31
Những tưởng trước tấm gương
của Lê Uy Mục, khi lên ngôi Lê
Tương Dực phải lo sắp đặt kỷ
cương, giữ gìn nếp cũ xưa kia của
tiên tổ. Nhưng chẳng được bao
lâu nhà vua lại sa vào tửu sắc và
hoang chơi, bất chấp mọi lời can
gián của các bậc trung thần. Vua
thường du ngoạn phong cảnh Tây
Hồ, sai cung nữ ở trần múa hát
trên thuyền.
32
Thấy Lê Tương Dực cũng chẳng khác gì Lê Uy Mục trước
đó, các trung thần cũ của triều Lê vô cùng thất vọng. Bảng nhãn
Lương Đắc Bằng đã dâng lời sớ rất thống thiết: “Từ khi bệ hạ
lên ngôi tới nay, hòa khí chưa thuận, can qua chưa dứt, kỷ cương
triều đình chưa xếp đặt, việc quân việc nước chưa sửa sang, tai dị
xảy ra luôn, như thế sợ đạo trời chưa thuận. Lại có núi đá sụt lở,
sợ đạo đất chưa yên. Và tham
nhũng, nghịch tặc triền miên,
sợ đạo người chưa ổn”.
33
Tháng 11 năm 1511, cuộc khởi nghĩa do Trần Tuân lãnh đạo
đã bùng nổ. Tuân có ông và cha đều đậu Tiến sĩ, làm quan cho
triều Lê. Nay thấy vua chỉ biết ăn chơi, không lo chính sự, bất
mãn nên nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa này đã làm cho cả triều đình
náo loạn. Phần nhiều các đại thần đều bí mật cùng gia quyến di
tản khỏi Thăng Long, nhằm đối phó với mọi bất trắc có thể xảy ra.
34
Được tin này, Lê Tương Dực sai người đi khám xét và sẵn
sàng giết bất cứ ai cùng gia đình đi lánh nạn. Tuy mệnh lệnh được
truyền đi rất gắt gao, nhưng rốt cuộc cả triều đình cũng chỉ còn
11 vị quan ở lại, trong đó có người ở lại vì chẳng biết phải đi đâu.
Điều đó chứng tỏ quan lại lúc này mạnh ai nấy lo, không cùng
đồng lòng như các đời vua trước. Khi Trần Tuân bị giết chết, bá
quan văn võ mới bắt đầu lục tục kéo về.
35
Tuy phải một phen hú vía
nhưng Lê Tương Dực vẫn
chẳng có gì thay đổi, lại lao
vào ăn chơi xa xỉ như trước. Bấy
giờ, sứ giả nhà Minh là Trạm
Nhược Thủy và Phan Hy Tăng
sang nước ta đã nhận xét về Lê
Tương Dực rằng, vua “mặt đẹp
mà lưng cong, tướng hiếu dâm
như tướng heo, loạn vong tất
không còn xa nữa”. Bởi nhận
xét trên của sứ giả nhà Minh,
đời vẫn gọi Lê Tương Dực là
vua heo.
36
Để thỏa mãn sự ăn chơi trác tráng của mình, Lê Tương Dực
sai Vũ Như Tô, một thợ mộc có tài thời ấy, làm một cung điện có
đến hơn 100 nóc nhà dựng Cửu Trùng Đài; lại cho đào hồ thông
với sông Tô lịch để vua tiện việc ngao du. Công việc kiến thiết
tốn kém không biết bao nhiêu mà kể. Dân phu phải lao động
phục dịch suốt mấy năm trời vô cùng cực khổ. Người đương thời
ai cũng oán thán.
37
Dưới thời trị vì của vua heo, bọn xu nịnh và cơ hội mặc sức
hoành hành. Trong số đó, nổi bật hơn cả là Trịnh Duy Sản và Mạc
Đăng Dung. Trịnh Duy Sản là cháu nội của Trịnh Khả, người có
công phò giúp Lê Lợi kháng chiến chống Minh khi xưa. Nay Sản
lại có công đưa Tương Dực lên ngôi nên được phong Mỹ Huệ hầu
và là võ tướng của triều đình.
38
Khi Trần Tuân khởi nghĩa, Trịnh Duy Sản được lệnh đem quân
đi đàn áp nhưng bị Trần Tuân đánh cho tan tành, chỉ còn trong tay
30 binh sĩ. Bị dồn vào đường cùng, tất cả xé áo làm cờ, giương
lên chạy thục mạng, tính sẽ đi đầu hàng Trần Tuân.
39
Nhưng chẳng dè, Trịnh Duy Sản và đám quân bại trận chạy
đúng vào bản doanh của Trần Tuân lúc Tuân đang uống rượu, việc
canh gác rất lỏng lẻo. Nhân cơ hội ngàn vàng đó, Sản đâm chết
Trần Tuân và nhanh chóng chuyển thế bại thành thế thắng. Từ
đấy Trịnh Duy Sản được coi là người có công lớn và được phong
Nguyên Quận công nên rất vênh vang.
40
Còn Mạc Đăng Dung cũng là võ tướng nhưng so với Trịnh
Duy Sản thì hoạn lộ của Mạc Đăng Dung chỉ mới bắt đầu. Chính
sử cũng như dã sử đã chép rằng, thuở nhỏ, Mạc Đăng Dung sống
bằng nghề đánh cá. Một lần, nhân triều đình tổ chức thi võ, Mạc
Đăng Dung dự thi và trúng tuyển.
41
Nhờ có tài và khôn khéo, Mạc Đăng Dung được phong dần
đến chức Đô chỉ huy sứ, tước Vũ Xuyên bá. Bấy giờ, nếu Trịnh
Duy Sản dựa vào quê nhà là Thanh Hóa để củng cố thế lực, thì
Mạc Đăng Dung cũng thông minh tìm cách tạo vây cánh ở nơi
sinh trưởng của mình là vùng Cổ Trai, Nghi Dương (nay thuộc
Hải Phòng). Ở Thăng Long, Lê Tương Dực chỉ là kẻ hữu danh vô
thực, quanh quẩn trong đám cung nữ và hoạn quan.
42
Cậy mình có công và được trọng thưởng
nhiều lần, Trịnh Duy Sản sinh ra ngạo mạn, nói
năng không kiêng nể ai. Điều đó khiến cho Lê
Tương Dực rất ghét. Có lần, Lê Tương Dực đã
sai quân sĩ lấy gậy đánh Trịnh Duy Sản ngay
giữa triều đình về tội lộng ngôn. Trịnh Duy Sản
lấy làm căm tức, chỉ mong có cơ hội để trả thù.
43
Tháng 4 năm Bính Tý (1516), nhân việc
cả kinh thành Thăng Long lại bị náo loạn
bởi cuộc khởi nghĩa của Trần Cao, Trịnh
Duy Sản liền cùng với Lê Quảng Độ và
Trình Chí Sâm bí mật bàn mưu thí nghịch.
Mượn cớ chuẩn bị lực lượng và phương
tiện để đi đàn áp Trần Cao, Trịnh Duy Sản
ngang nhiên cho quân tập trung sát ngay
Thăng Long.
44
Tối ngày 6 tháng 4, quân của Trịnh Duy Sản bắt đầu tràn vào
kinh thành. Lê Tương Dực hốt hoảng tưởng là quân của Trần Cao,
bèn theo lối tắt, lẩn trốn ra khu vực phường Bích Câu (nay thuộc
quận Đống Đa, Hà Nội). Gặp Trịnh Duy Sản đuổi theo, Lê Tương
Dực vẫn không biết gì, liền hỏi: “Giặc ở hướng nào?”.
45
Trịnh Duy Sản nghe vậy thì quay mặt đi, không thèm trả lời,
lại còn cười ầm ỹ lên. Chột dạ, Lê Tương Dực liền thúc ngựa bỏ
chạy. Trịnh Duy Sản lập tức sai võ sĩ đuổi theo, đâm Lê Tương Dực
ngã xuống rồi nhân đó giết chết. Đó là ngày 7 tháng 4 năm Bính
Tý (1516), Lê Tương Dực mới 23 tuổi, ở ngôi vừa được 6 năm.
46
Sau khi giết Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản liền đưa cháu của
Lê Tương Dực là Quang Trị (lúc này mới 8 tuổi) lên ngôi. Nhưng,
Quang Trị ở ngôi vừa được ba ngày, chưa kịp đặt cả niên hiệu,
thì đã bị Trịnh Duy Đại là anh của Trịnh Duy Sản đem về Tây
Đô rồi giết chết. Một người cháu khác của Lê Tương Dực là Lê
Y được đưa lên ngai vàng.
47
Lê Y (còn có tên khác là Lê Huệ) là con trưởng của Cẩm Giang
vương Lê Sùng, cháu gọi Lê Tương Dực bằng chú ruột. Khi được
đưa lên ngôi vua, Lê Y mới mười bốn tuổi. Đó là vua Lê Chiêu
Tông (1516–1522). Trước khi lên ngôi, Lê Y đang lánh nạn ở
Thanh Hóa. Đến đây, triều đình đã có vua mới nhưng chính sự
thì vẫn nát như cũ.
48
 





